Samizdat và hơn thế nữa

Câu chuyện samizdat (sẽ còn) là một câu chuyện dài ở ta và sẽ nhiều chỗ cho những thảo luận. Tôi chỉ đặt một cái ghi nhớ ở đây.

Báo Nhân Dân hôm nay có thể giải trí người đọc bằng một đoạn viết về samizdat. Tôi nghĩ đây là điểm duy nhất trong bài báo mà tôi muốn tranh luận lại. Tôi đang hình dung, với trách nhiệm của một tờ báo lớn, báo Nhân Dân có thể đăng cai mở một cuộc thảo luận công khai về Samizdat cho các nhà nghiên cứu, giới sưu tập, các nhà văn, các nhà xuất bản…tham gia trao đổi chăng?

http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/22905702-ho-dau-can-quan-tam-toi-khoa-hoc.html

Xin trích lại:
“Trong luận văn, ÐTT sử dụng khái niệm samizdat (tiếng Ðức là Samisdat) để khẳng định, biện hộ “thơ rác, thơ dơ”. Theo Wikipedia tiếng Ðức, Samisdat là khái niệm chỉ các ấn phẩm tự làm ra, bị cấm, nên ngoài việc đọc cho nhau nghe thì cách duy nhất là phổ biến bí mật. Với hình thức nhân bản truyền tay, Samisdat chỉ tồn tại trong thời chiến tranh lạnh, tác giả của Samisdat là một số người đi đầu phong trào chống chế độ. Theo các tài liệu khác thì khẩu hiệu của những người đã làm ra Samisdat là: “Mehr Samisdat schafft mehr Opposition” (Nhiều samisdat tạo ra nhiều chống đối); câu này được viết theo một vòng hình elip, để từ đó có thể hiểu là: nhiều chống đối tạo ra nhiều Samisdat! Ở CHLB Ðức, sản phẩm Samisdat hiện chỉ được lưu giữ ở nhà bảo tàng, kho lưu trữ, chưa bao giờ được xuất bản. Một vài người vì tò mò, hoặc vì muốn cổ vũ phong trào chống đối tại một số nước thì ra vẻ nghiên cứu để khoác cho Samisdat nhãn nghệ thuật, khoa học; còn về đại thể thì đến nay không mấy ai biết Samisdat là cái gì, người thuộc cái gọi là “thơ” trong Samisdat lại càng không. Vì Samisdat ra đời không phải vì mục đích văn học, mà chỉ là một phương tiện phục vụ hoạt động chính trị chống đối chế độ, nên khi “sứ mạng” xong rồi thì Samisdat cũng bị lãng quên.”

“Những gì xảy ra ở Liên Xô và Ðông Âu trong quá khứ, được ghi lại trong sách báo đã chỉ rõ rằng, Samisdat là một công cụ nguy hiểm đối với xã hội.”
(hết trích)

Tháng 7 năm 2012, Báo Tia Sáng đã bàn luận về vấn đề này:

- Bài của TS Giáo dục, nhà thơ, dịch giả tiếng Nga Nguyễn Thuỵ Anh, một người học Nga “Samizdat, từ bao giờ và như thế nào?”.

http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=5388&CategoryID=41

Nếu samizdat là vô giá trị, hẳn ngày nay ta không được đọc B. Pasternak, A. Solzhenitsyn, M.Bulgakov… và nhiều tác giả khác. Nếu samizdat là vô giá trị, hẳn học sinh trong các trường học Việt Nam hẳn sẽ không có cơ may học Tố Hữu, Hồ Chí Minh và rất nhiều văn thơ cách mạng giai đoạn đầu vì họ cũng xuất bản samizdat. 

Rộng hơn về câu chuyện về samizdat, là xuất bản phá cách đương đại, hay là xu hướng xuất bản độc lập đương đại. Tôi có từng trích dịch một phỏng vấn:

 

- http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=5402&CategoryID=41

- Nếu samizdat là vô ích, người ta đã không dành những chuyên đề lớn để nghiên cứu về nó trên thế giới. Đây là các bài báo trên tạp chí Poetics Today 2008 trong Chuyên đề Samizdat, chuyên đề tôi đã giúp ích tôi nhiều khi làm luận văn.  Tôi xin upload lên đây các bản pdf để bạn đọc tiện tham khảo và trao đổi. Nếu các bạn quan tâm, có thể dịch các tiểu luận này.

-  Joseph Benatov, Demystifying the Logic of Tamizdat: Philip Roth’s Anti-Spectacular Literary Politics

- J. Martin Daughtry, Sonic Samizdat”: Situating Unofficial Recording in the Post-Stalinist Soviet Union

- Alexander Gribanov, Samizdat according to Andropov

- Ann Komaromi, Samizdat as Extra-Gutenberg Phenomenon

- Martin Machovec, The Types and Functions of Samizdat Publications in Czechoslovakia, 1948–1989 

- Peter Steiner, Introduction: On Samizdat, Tamizdat, Magnitizdat, andOther Strange Words That Are Difficult to Pronounce – poetictoday 2008

- Leona Toker, Samizdat and the Problem of Authorial Control: The Case of Varlam Shalamov 

- Alexei Yurchak: Suspending the Political: Late Soviet Artistic Experiments on the Margins of the State

The Types and Functions of Samizdat Publications in Czechoslovakia, 1948_1989

Situating Unofficial Recording in the Post-Stalinist Soviet Union

Samizdat as Extra-Gutenberg Phenomenon

Samizdat and the Problem of Authorial Control-The Case of Varlam Shalamov

Samizdat according to Andropov

Late Soviet Artistic Experiments on the Margins of the State

Introduction- On Samizdat, Tamizdat, Magnitizdat, and Other Strange Words That Are Difficult to Pronounce

Demystifying the Logic of Tamizdat-Philip Roth’s Anti-Spectacular Literary Politics

 

Kaitlin’s book by ajar

 

 

Ajar can be touched (more) physically now:

chapbooks for sale. contact me at nhathuyenaz@gmail.com if you want a copy.

more about Kaitlin Rees and her poems:

http://ajarmagazine.com/2013/10/23/i-love-you-all-the-strangers/

 

IMG_3656

 

And a show of poetry and painting:

From manzi art space:

10-24.04.2014 ::: NHỮNG BÓNG MA TÌNH CỜ
 
‘Những Bóng ma Tình cờ’ là dự án kết hợp giữa thi ca và hội họa của Kaitlin Rees và Baptiste Gilloz, với sự tham gia phiên dịch của Nhã Thuyên. Những bức vẽ trên toan với kích thước 116×92 cm không theo bất cứ chủ đề nào, nên có khả năng gợi lên bất cứ điều gì. Người xem được tạo một không gian mở để soi chiếu chính bản thân mình, tìm ra những điều có nghĩa, và cả những điều vô nghĩa. Tuyển tập bao gồm mười bài thơ nhìn nhận các tác phẩm hội họa từ bên ngoài, và dần dần đi sâu tìm hiểu vào bên trong; nhằm mục đích khám phá những mặt khác nhau của sự cân bằng trong các mối quan hệ. Trưng bày khai mạc vào ngày 10.04.2014 và kéo dài tới 24.04.2014, bao gồm các tác phẩm hội họa, một tuyển tập thơ nhỏ, và một video trình chiếu.
 
Khai mạc: 19h00, thứ Năm 10.04.2014
Trưng bày: 10-24.04.2014
Vào cửa tự do
 
10-24 Apr 2014 – CASUAL GHOSTS
 
‘Casual Ghosts’ is a collaborative project of poetry and painting between Kaitlin Rees and Baptiste Gilloz, with Nha Thuyen as translator. The 116×92 cm paintings on canvas are not of anything and so can evoke everything. They allow the viewer an open space for the projection of self, of sense, of nonsense. The ten poems collected in a chapbook start with a looking outward at these works, and end in a looking inward, exploring different faces of balance in relationships. The exhibition will include paintings, a small book of poems, and a video projection.
 
Opening: 7PM Thurs 10 April 
Showcase: 10-24 April  
Manzi Art Space, 14 Phan Huy Ich
Free entry
Yên San reads:

Khách thơ

nhathuyen:

Tôi nhớ những khoảnh khắc khi tôi viết bài viết này. Khoảng thời gian đó, tôi nghĩ, một lần nữa, dù bất cứ chuyện gì xảy ra, mình cũng phải ôm mang cộng đồng (tưởng tượng) của mình, mình ôm mang ngôn ngữ của mình, và thơ ca, tình yêu, tình bạn đang ôm mang mình. Nhưng lúc này, một lần nữa, tôi căng thẳng đối diện với chính mình, để được tin lại một lần nữa, và thấy tan tác quá chừng, khó quá chừng.

Originally posted on NHA THUYEN:


Don't Panic

     ————————————–Really love Google at the moment: Do you mean Poetry = (Don’t ) panic?————–

  – Khách thơ gặp lúc mùa xuân chín –

                                -  Hàn Mặc Tử & a dreaming non-reader-

 

1. Ba năm trước, khi tôi đang ở tuổi 24, một người bạn tặng tôi một câu trích từ một tiểu luận về Ezra Pound của T.S.Eliot, tiểu luận “Ezra Pound: His Metric and Poetry”: “When a poet alters or develops, many of his admirers are sure to drop off. Any poet, if he is to survive as a writer beyond his twenty-fifth year, must alter; he must seek new literary influences; he will have different emotions to express” “Khi một nhà thơ thay đổi hoặc phát triển, hắn ta chắc chắn sẽ để rơi rụng đi nhiều kẻ ái mộ. Bất cứ nhà thơ nào, nếu muốn sống sót như một người viết qua…

View original 1,722 more words

Đơn đề nghị & Phản hồi

Ngày 03 April 2014: tôi đi gửi đơn đề nghị ông hiệu trưởng và phòng sau đại học của trường ĐHSPHN minh bạch hoá những thông tin và các quy định pháp lý dẫn tới quyết định huỷ huỷ huỷ một chiều.

IMG_3608Ngày 13 April, nhờ vào dịch vụ chuyển phát nhanh, tôi nhận được thư trả lời của phòng sau đại học, trường ĐHSP, nơi cung cấp dịch vụ giáo dục sau đại học mà tôi đã sử dụng.

IMG_3874
Đây là đơn đề nghị của tôi:   Thuguihieutruongedit

??????????????????????????????? ???????????????????????????????

 

 

Trần Duy: người hoạ sĩ sống đời mình

 

1072672_1392202767664831_486246784_o

 

Trần Duy, với tôi, là một nghệ sĩ đặc biệt, hay là ngoại biệt. Cả đến lúc đã hoàn tất cuộc sống dương thế, ông vẫn không/chưa (bị) trở thành một biểu tượng có thể quy giảm vào vài ba nét nghĩa. Ông, nhiều hơn, vẫn cứ là một đời sống, mơ hồ như một đời sống, kín đáo như một cuốn sách chưa nhiều người đọc và vẫn đang sống đời riêng nó.

Người ta có thể biết ông là thư kí toà soạn báo Nhân Văn – mà như ông tự nhận, ông là tay chân, chứ không phải cái đầu của Nhân Văn, nhưng câu chuyện về ông trong Nhân Văn – Giai Phẩm nhiều khoảng trống hơn là sự đủ đầy. Những phát ngôn đâu đó của ông về Nhân Văn -Giai Phẩm làm bối rối người đọc hơn là đưa ra một chỉ dẫn sáng sủa về phong trào này. Trong câu chuyện của ông, tôi hình dung, Nhân Văn – Giai Phẩm chưa bao giờ là một sự kiện lịch sử đã hoàn tất. Nó còn là cái nghẹn chưa trôi, một khối bóng tối chưa tan, một khúc nôi chưa xong những giãi bày, một oan nợ khó quyết toán qua nhiều thế hệ.

Người ta có thể nói về ông như một bậc thầy cuối cùng của dòng tranh lụa, nhưng những tác phẩm hội hoạ của ông tôi không nghĩ nhiều người có may mắn ngắm nhìn. Từ sau Nhân Văn, hay tính cả đời làm nghề của mình, ông chỉ triển lãm hai lần: năm 1991 và năm 2004. Các sinh viên mĩ thuật hẳn chưa nhiều người bận bịu tìm hiểu ông.

Ông không tuyên ngôn về việc lựa chọn sống đời nghệ sĩ, nhưng bản thân cuộc sống của ông là một lựa chọn gắn bó và được cưu mang bởi nghề vẽ và các tác phẩm hội hoạ. Ông không phát ngôn chính trị hay tuyên ngôn đòi dân chủ, nhưng ông chưa bao giờ là một người mơ trốn thoát khỏi cuộc đời và thời cuộc. Ông ở giữa hai nỗ lực ấy, nỗ lực tìm chỗ đứng trong cuộc đời bằng mối ưu tư với việc chung của dân tộc, đất nước, và nỗ lực để cuộc đời nghe được tiếng nói của mình, thấy được hình sắc tâm hồn mình bằng hội hoạ. Ông vừa thuộc về một thời đại vừa như không thuộc về nó. Ông ở giữa, đâu đó, phẩm tính trí tuệ của một trí thức, người luôn thấy mình trong những nỗi lo âu chung của dân tộc, đất nước và nghiệp chướng tâm hồn của một nghệ sĩ, kẻ chẳng thể nào tin dễ dàng vào những tư tưởng cố định, những đảng phái, những cuộc cách mạng, thậm chí cả những bằng cứ lịch sử. Như một truyện ngắn của ông, truyện Tiếng Sáo Tiền Kiếp, cái tâm hồn đó làm sao có thể đơn giản muốn xoá đi là xoá được, làm sao có thể bị sai khiến, làm sao có thể bảo quên là quên?

Trong những chuyện ngày thường, Trần Duy thường đọc những câu thơ về Đằng quốc, (tôi tra cứu, thì hình như bài thơ được coi là của Hồ Xuân Hương (?) để nói về tình thế (không được) lựa chọn của một nước nhỏ:

Đằng quốc xưa nay vốn nhỏ nhen

Lại còn Tề Sở ép hai bên

Ngoảnh mặt sang Tề e Sở giận

Quay đầu về Sở sợ Tề ghen

Tôi e, có lúc, ông đã vận những câu thơ ấy vào mình, vào đời mình.

***

Tôi nhìn mối tình với mĩ thuật mà ông nuôi nấng và trở thành mối tình lớn của đời ông cũng là một sự lựa chọn dường như không chủ ý và không dễ dàng. Đó không đơn giản là yêu và bày tỏ tình yêu và được yêu. Đó là một tình yêu mà người ta phải can đảm học cách yêu, học cách đón nhận nó và nỗ lực không ngừng để, cuối cùng, được nó đón nhận. Trong tình yêu đó, ông dần dần tìm thấy mình, tìm thấy một lẽ sống của mình. Tôi hình dung bước chân ông, từ lúc trốn chạy khỏi không gian cung đình Huế tuổi hai mươi, bơ vơ bắt đầu lại nơi Hà Thành, học hành dang dở, đi theo Việt Minh, làm tranh cổ động, tranh tuyên truyền, rồi tới lúc làm Nhân Văn, vẽ biếm hoạ, đả kích, rồi tới lúc cuộc sống dường như chỉ là một nỗ lực tồn tại, rồi hầu như sống đời im lặng với bút và màu cho tới khi xuất hiện trở lại với đôi triển lãm, gom lại những tác phẩm đời mình trong vài cuốn sách… Con đường đó chắc chắn không phải là một “con đường nghệ thuật” đơn giản và thuần tuý mà ông được tự mình lựa chọn. Tôi không biết tôi có muốn nhìn cuộc đời ấy như một bi kịch của cá nhân giữa thời cuộc (ai tránh được cái thời mà họ sống?), hay tôi chỉ muốn ngắm nhìn lại cuộc đời ấy, bằng tưởng tượng, bằng hình dung qua những lời kể, bằng hồi ức về ông, như một cuộc đời vừa giản dị, vừa không giản dị chút nào, trong nỗ lực đeo bám bền bỉ một tình yêu nồng nàn yên lặng suốt cả một đời người, và ông cũng chưa bao giờ phải ồn ào về nó.

Tôi treo lơ lửng câu hỏi từ lâu: người ta có thể chỉ đơn giản im lặng sống đời mình và trân trọng đời người khác hay không? Từ “thủ lĩnh” không hợp với ông, và từ “bi kịch” dường như cũng không thích hợp. Ôm mang nghệ thuật để sống là may hay không may, ở một đất nước dường như người ta trông đợi trí thức hơn nghệ sĩ, người ta dễ rẻ rúng nghệ thuật và trông mong vào những người đại diện cho nhiều người? Chẳng phải là đáng kể sao nếu chỉ nỗ lực sống đầy đủ đời mình, bám víu lấy đời sống của mình, tìm một cái gì đó, mà có thể, cuộc đi tìm đó chưa bao giờ dừng lại? Chẳng phải là đáng kể sao một cuộc đời không khít vừa các biểu tượng? Ai có thể thoát ra ngoài những vòng xoáy buồn bã sai lạc của ngôn ngữ đầy biểu tượng và những nỗ lực diễn giải nó? Nhưng cả khi chúng ta đang chẳng thể nào thoát ra khỏi vòng vây của chúng, chúng ta cũng có thể bày trò chơi với nhau theo một cách nào đó của mình, và dường như luôn có nhiều hơn một cách chơi. Lựa chọn (làm/chơi với) biểu tượng này, ông có thể là một thủ lĩnh, một nhân vật có số má, một số phận bi kịch, lựa chọn (làm/chơi với) biểu tượng kia, là lựa chọn im lặng, là lựa chọn làm một pho sách phủ bụi, không lời diễn giải, không bao giờ có đính chính. Nhìn phía này là sự tổn hại, giày xéo, nhìn phía khác, có thể là vẻ đẹp của một sự tự do cô tịch. Nhìn phía này là sự im lặng đáng ngờ, khó hiểu, nhìn phía kia, đó là sự cưu mang những mơ hồ và nỗi mong manh của cuộc đời. Và nhiều khi, sự cưu mang những mơ hồ và nỗi mong manh đó chẳng phải là cái làm cho thế  giới này trở nên tốt đẹp hay sao?

 

Với tôi, đó là một mối tình lớn.

 

***

 

Ông đang vắng, cả trên google.

Có lúc, tôi nghĩ, người ta, hay tôi, đã quên ông.

Tôi biết tin ông mất qua một dòng tin trên facebook, lúc ông đã nhất định im lặng được gần một ngày. Gần 12 giờ đêm, người bạn tôi đạp xe đến nhà ông ở Khâm Thiên, chỉ để xác nhận rằng (hình như đúng là) ông đã mất với một bà hàng nước vỉa hè, trong khi tôi ngồi tưởng nhớ ông bằng cách gửi cho đôi người bạn hoàn toàn không biết về ông những bức tranh đã scan lại từ sách, nói về ông với những người lạ, những người không phải cư dân của đất nước này, những người không biết có thể chia sẻ cùng tôi câu chuyện về đất nước này, về con người nơi này.

Một con người, một cuộc đời luôn là một không gian sống. Ông là một ngôi nhà vắng cứ mở cửa đấy, đợi mà như không đợi. Một lúc này lúc khác, đôi người nào đó, bước vào, ngồi lặng trong đó một chút và lại đi.

Tôi hình dung cách tôi đến với ông phần nào như thế. Nhớ lại, tôi đến tìm gặp ông sáu năm trước, lúc tôi vừa chập chững rời trường Đại học và đang là thực tập sinh báo Lao Động, bồn chồn háo hức với hiện tại và ôm mang nỗi dằn vặt sách vở với những câu chuyện mập mờ quá khứ, tôi đã rụt rè đòi tìm biết đời chung để thấy lẽ riêng, tôi đã trông mong quá khứ và hiện tại không phải những từ chia biệt, cả khi con đường nối liền quá khứ – hiện tại có một nhát dao chém mạnh giữa chừng. Nhưng rút cục, sau nhiều năm, hình như điều duy nhất tôi có thể làm là đôi lúc đến và cứ ngắm nhìn ông neo đậu trong đời sống này, sau nhiều năm trôi theo dòng chảy, thế thôi, đẹp quạnh quẽ như một con thuyền nan đứng im bến vắng mà không thôi sống động cùng những cái cựa mình của cỏ cây, những lay động của bờ lau, những xô dạt của dòng nước nhỏ.

Bây giờ, tôi đang hình dung lại, để giữ gìn cẩn trọng những kí ức nho nhỏ của những lần lui tới thăm ông, nghe ông kể về tuổi thơ, tuổi trẻ, nói chuyện cùng ông, hay có khi chỉ để soạn lại vài cuốn sách bụi bặm và ngắm vài bức phác thảo, có khi chỉ để đưa cho ông một bức hình chụp hoa mẫu đơn trong chùa, một bức hình chụp góc bờ Hồ ông đang vẽ mà không thể đi lại thong dong ngắm nghía như xưa, có khi chỉ để ngồi im lặng nhìn hồ Tây từ phía quán cafe khách sạn Thắng Lợi, đôi lần thong dong cả buổi chùa Láng chỉ để truy lùng dấu tích của cái góc nhìn cũ trong bức ảnh ông đã chụp mái chùa xưa, nghe ông than hoài khi không còn tìm được đúng cảnh cũ của bức ảnh xưa, và buồn vì làm sao mà vẽ được cái không còn như xưa nữa… Những lần cuối cùng đến thăm ông, tôi đã thấy bớt vui, tôi đã thấy những câu chuyện lặp lại, những nỗi buồn lặp lại, sự luẩn quẩn của cuộc đời lặp lại. Tôi đã có ý trốn. Bây giờ, tôi muốn trở lại với đời ông trong khoảnh khắc hồi tưởng. Tôi giữ lại trong tôi nụ cười của ông, giọng nói rổn rảng khi còn khoẻ, ánh mắt sáng lên kể về những người bạn, những gặp gỡ thuở thanh niên. Tôi giữ lại trong tôi hình ảnh bàn tay ông gọt bút chì, những ngón tay tuổi 90 vẫn cần mẫn, những xoáy gỗ lên như sóng và ông nói về cảm giác phản bội những chiếc bút khi bỏ bê chúng quá lâu không vẽ. Tôi giữ lại khoảnh khắc đến thăm ông, hôm ấy, ông cứ ngồi mãi trong bóng tối, và lúc tạm biệt ông, ông vẫn cứ ngồi mãi trong bóng tối, bàn tay gõ nhịp trên bàn, lúc ấy, tôi có cảm giác, ông không biết về sự hiện diện của kẻ khác trong không gian của ông nữa.

Bỗng nhiên tôi nhớ thơ Lê Đạt, có gì thật buồn cười, tôi không nghĩ rằng họ gần nhau. Vậy mà câu thơ Lê Đạt vẫn đến từ bóng chữ:

Em để lại tim anh

Tên một loài hoa cổ

Cầm tên em đi tìm

Lần lối hoa văn cũ

Lối bia thần tích xưa

Lối bìa da mộng phủ

Gạo bay bông

lông ngỗng rủ truyền kỳ

Trăng Ba Vì

sao đổi

chữ thiên di

 

Những người như vậy vẫn đây mà đã ở đâu xa. Những người nhân văn có thể chưa đối thoại lại với nhau trên cõi sống, có thể gặp nhau nơi cõi mộng. Lúc đấy, thì ở cuộc đời tưởng chừng có thực này, ta vẫn tiếp tục muốn cãi cọ, giằng co, giành giật và gắng cãi cọ thêm một chút nữa về những dạng thức biểu tượng đời sống, gắng giành giật nhau một chút không gian, mà ta chưa sẵn lòng chơi đùa cùng nhau.

Còn ông, một nghệ sĩ, ông đã không sống để là một huyền thoại, ông không sống trong huyền thoại, ông không sống để được hậu thế đánh giá, ông không sống để được “sống lại” trong sách. Một nghệ sĩ, như tôi hiểu, rút cục, có thể chỉ đơn giản là sống đời mình, trân trọng đời kẻ khác và cưu mang những cái mong manh, ôm ấp sự mơ hồ trọn vẹn. Nghệ thuật của ông cũng được sống trong sự mơ hồ đó. Tại sao không? Một người có thể được chọn, tự lựa chọn đời mơ hồ, để sống. Ở đó, tâm hồn con người sâu hơn, bền bỉ hơn những ân oán, và luôn luôn, như một sự sống an ủi, khiến người ta được bám víu và không tuyệt vọng vì cái xấu, cái ác. Nó là cái ở lại sau những xô dạt thời cuộc, là cái, có lẽ, làm tôi đã luôn thấy ông chỉ đang tạm biệt tôi.

Lúc này, trong tôi, ông hiện diện như một quà tặng mà tôi đã có dịp được ngắm nhìn đôi lúc, một sự ngắm nhìn cũng đủ cho một sự tin yêu, trìu mến. Đôi khi tôi muốn cứ ngắm nhìn thế thôi, có lúc chẳng đọc được dòng ý nghĩa nào, có lúc trang sách hoàn toàn đóng kín, lòng tôi hoàn toàn đóng kín, nhưng cũng có những lúc tôi đã nhìn ra được vẻ đẹp của nó. Nếu không thoát được việc sống trong những biểu tượng và nói về một người, nhất là một con người đã hoàn tất thời gian sống, thì ông là một biểu tượng của cái không gì cả, một biểu tượng mà những nỗ lực tạo nghĩa cho nó là không đủ hay bất khả, một biểu tượng di chuyển bất tận trong những câu chuyện cá nhân, những gặp gỡ, những tiếp xúc, những cảnh huống, những con người cụ thể.

Căn nhà quạnh quẽ của ông vẫn mở đó thôi.

28.03.2014

 Bài đăng báo Tia Sáng tháng 4.2014
Online: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&CategoryID=41&News=7399

20100924160703_00001