Những cuốn sách thời thơ ấu

flyer lecture d'enfance

Post lại bài viết cũ của buổi nói chuyện ở Lespace hồi xưa:)

Tiểu sử của việc đọc và người viết trẻ

Nếu như hình mẫu nhà văn – người đọc đã có các dẫn chứng điển hình từ Rousseau, Sartre, đến Borges, Market,… trong các tự truyện và kiểu nhân vật – người đọc cũng xuất hiện trong các tự sự hư cấu Tây Âu thì chuyện về những tác phẩm đọc thời thơ ấu chắc chắn không phải một đề tài được chú ý trong văn học Việt Nam, ngay cả trong các tự truyện. Đâu đó, ta bắt gặp những nhà văn kể lại việc đọc sách của mình thời thơ ấu nhưng tôi chưa có cơ may được gặp nhân vật nào đọc sách như một thứ bùa ngải và đam mê cắt nghĩa lại những cuốn sách (có thực). Trong một số tác phẩm, như của Nguyễn Tuân, các nhân vật có thú chơi sách một cách cầu kì lễ nghi, nhưng không hẳn là kẻ đọc sách. Với những người trí thức nghèo của Nam Cao, lòng khao khát sách vở bị nhấn chìm bởi nỗi lo cơm áo, vẻ đẹp gương mặt người đọc sách biến dạng thành nỗi đau khổ vì dằn vặt. Hay trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà, Bảo Ninh… các nhân vật ham đọc sách, mê sách, chơi sách rải rác đâu đó, nhưng kiểu nhân vật – người đọc hình như chưa từng xuất hiện!. Trong thơ kháng chiến, nhân vật trong bài thơ của Chế Lan Viên vừa đi đường dài vừa mang theo Truyện Kiều, nhưng Truyện Kiều, ngay cả khi thấm đẫm cái nhìn huyền thoại hóa cũng không thể là “điển hình” của việc đọc. Khoảng cách và sự thiếu chia sẻ trong sự tiếp xúc giữa các nhân vật ham đọc sách và người đọc xương thịt thực tế, đôi khi nằm ở chính điểm mù thông tin: Không mấy ai biết họ – tức các nhân vật ham đọc sách ấy – đọc gì, và cũng không biết gì về những cuốn sách họ đọc, và các nhân vật nói về sách như trong một thế giới xa xôi… Biết đâu, sự thiếu kích thích một phần từ chính nhân vật trong sách đã làm nảy sinh một tâm lý khá thực dụng trong ứng xử với sách vở ở Việt Nam, một nỗi ám ảnh ngay từ khi còn nhỏ là các ông bố bà mẹ coi việc những đứa trẻ chỉ biết chúi mũi vào sách vở là những đứa “vô tích sự”, chẳng biết gì về thế giới.

Chắc chắn là, với cá nhân tôi, từ cuốn sách này nảy ra cuốn sách khác là đúng theo nghĩa đen của nó. Tôi yêu những nhân vật sách vở. Tôi vẫn nhớ khi đọc Don Quixote, tôi đã ao ước biết anh chàng này đọc cuốn sách gì mà được trở nên say sưa hoang tưởng vậy! Từ “sách” tự bản thân nó mang quyền năng bí ẩn mà việc trích dẫn lại những câu những từ hay những đoạn, những ý tưởng trở nên hấp dẫn vô tận. Tôi còn giữ những cuốn sổ tay trong đó ghi chép lộn xộn bất kể cái gì đọc được, ở đó Dostoievsky nằm lẫn với Mario Puzo, những trích đoạn Rousseau đọc được ở cạnh Corney, Racin, các đoạn thơ Pháp và thơ Việt Nam bất kể từ Nguyễn Công Trứ đến Hàn Mặc Tử, thậm chí cả các triết lý trong sách kinh doanh hay báo ngày. Tôi đã tìm kiếm tư tưởng trong những thứ đọc được như thể là kim chỉ nam cho suy nghĩ, hành động và cả các quan niệm sống đang hình thành của mình, quan điểm nọ xung đột với quan điểm kia và các thần tượng dựng lên rồi lại đổ. Thói quen trích dẫn này theo tôi một thời gian dài, cho đến sau tuổi 20 thì dường như việc đọc sách của tôi cũng bớt đi vẻ sống động và cuồng nhiệt.

Ở tuổi 16, 17, sách đã từng là nơi chốn riêng tư, là tín chỉ của tình bạn, tình yêu. Tôi và đôi người bạn thân viết cho nhau những bức thư tay nồng nhiệt (và rất ngây thơ) để phân tích quan điểm của các nhân vật trong tiểu thuyết. Chúng tôi tranh luận về tình yêu bi kịch của Romeo, nỗi đau đớn ngây thơ của Ophelia khi bị Hamlet sỉ nhục, chúng tôi băn khoăn về “sống hay không sống” như thể đó chính là vấn đề của riêng mình, chúng tôi phân tích những lựa chọn từ Con đường đau khổ, tranh luận về cái ác, cái cao cả, sự phi thường, tội lỗi, nỗi cô đơn trong Tội ác và trừng phạt, nỗi trống rỗng như căn nhà đầy cỏ khô của các nhân vật lấy hư vô làm triết lý sống, lấy hành động vô đích làm nên sự tồn tại trong tác phẩm của Tourgheiniev, chúng tôi bắt đầu chạm vào cuốn sách kì lạ không sao hiểu nổi của Market. Và từ Xuân Diệu mà mơ mộng đến hình ảnh của Verlain và Rimbaud. Từ Lưu Quang Vũ mà yêu Apollinare. Những cuốn sách có khả năng đặt câu hỏi và tra vấn không thôi tồn tại của chính bản thân mỗi người. Câu hỏi “đọc được gì” trong đám bạn bè giữa các kì nghỉ trở thành một câu hỏi quan trọng và thiết yếu như thế “sống được gì”, mỗi cái tên mới hiện ra như thể một điều gì kì lạ và bí mật, mà kẻ nào càng đi sâu vào thế giới ấy, càng sở hữu những quyền năng riêng biệt. Trong những ngày tuổi trẻ, niềm đam mê với ngôn từ luôn đến sau nhu cầu cắt nghĩa cuộc sống, tìm ý nghĩa của văn chương và cuộc đời, những câu hỏi về cuộc sống, cái chết đã được đặt ra một cách mãnh liệt và riết róng, dù sau đó thường dẫn đến tự phản tỉnh rằng sách chẳng có câu trả lời…. Tất cả sự say mê cuồng nhiệt đó là những khoảnh khắc, những thời điểm không dễ gì có lại và càng không dễ mất đi.

***

Sự phát triển của xuất bản và truyền thông, internet chắc chắn đang mở ra những cơ hội lớn với việc đọc cho người viết trẻ ở Việt Nam. Nhiều tác phẩm đã từng bị cấm vì lí do chính trị và lịch sử được xuất bản lại hoặc được số hóa và lưu hành trên internet do một cộng đồng văn chương nhỏ như các tác giả Nhân Văn- Giai Phẩm, các tác phẩm của Miền Nam trong thời kì chia cắt…  Một nguồn sách dịch phong phú mang lại hứng thú lớn cho việc đọc mà vai trò của chúng cũng như của các dịch giả trong các giai đoạn “thịnh” của đời sống văn hóa, văn học chắc chắn luôn là đáng kể. Đi dạo các hiệu sách bây giờ, tôi không tránh khỏi cảm giác nuối tiếc bởi mình đã không được gặp chúng sớm hơn. Bởi dường như đến một độ tuổi nào đó, niềm say mê thuần túy, chìm đắm với sách trong thế giới riêng biệt của mình hiếm hoi dần đi, dù những cuốn sách hay xuất hiện ngày càng nhiều hơn. Vậy là dường như cơ hội đọc sách tăng lên, nhưng cơ hội trải nghiệm thực sự với sách lại giảm đi.Gần đây, khi đọc cuốn Người đọc của Bernhard Schlink hay một số tác phẩm của Linda Lê được dịch ở Việt Nam, hình ảnh người viết – kẻ đọc lại trở nên hiển hiện rõ ràng và mãnh liệt trong tôi ở những khoảnh khắc căng thẳng của việc đọc. Điều gì làm tôi quan tâm tới các tiểu sử của các nhà văn lớn trên thế giới? Chắc chắn đó là việc họ có một tiểu sử đọc, tôi muốn biết từ đâu mà có thế giới văn chương của họ, từ nỗi đau đớn nào, hay từ cuốn sách nào, những cuốn sách họ đọc tôi đã chạm đến chưa… Mỗi nhà văn lớn thường đồng thời là một người đọc đáng kể. Việc đọc sách, lí tưởng nhất, với tôi cũng cần cô đơn, vắng vẻ và độ trải nghiệm căng thẳng không khác xa nhiều với việc viết. Sự vắng lặng này khiến cho những tiếng nói trong sách và trong chính bản thân ta vang lên rõ ràng hơn, trong sự âm u cô quạnh mà những linh hồn có thể tìm đến với nhau theo những con đường vô hình mà những kẻ thực dụng sẽ chỉ nhìn một cách khinh rẻ. Những người mê đọc thường ao ước một quỹ thời gian vô tận để chìm đắm vào thế giới không hoàn kết ấy, nhưng sự thực là những gì muốn đọc ấy cứ nảy ra vô tận theo cấp lũy thừa, khiến cho chúng ta luôn cảm thấy bứt rứt, nuối tiếc, ân hận và cảm giác bất toàn trong trải nghiệm đời sống….

Tôi nghĩ rằng ở đây dễ xảy ra những sự hiểu lầm. Một người viết đọc nhiều chưa hẳn là một nhà văn viết tốt và ngược lại. Thành công của một tác phẩm đôi khi là những cú may rủi khó lường. Thật không công bằng nếu cho rằng đọc sách nhiều sẽ dễ dẫn đến những “ảnh hưởng”. Người ta có thể tìm thấy dấu vết của tác giả này, tác phẩm kia ở một nhà văn này nhà văn khác, nhưng đồng nhất việc đọc và ảnh hưởng, sợ hãi việc đọc, thậm chí rẻ rúng việc đọc chỉ là một cách ngụy biện cho nỗi tự ti vì phải đối diện với cái khác mình, cái quyền năng vô hình của giá trị văn hóa. Cơ chế ảnh hưởng có lẽ đến một cách tinh vi, mà bản thân việc đọc đã là một hạnh phúc, một sự kích thích không dễ có. Tôi nghĩ cũng là không công bằng khi nhiều người thường đánh giá thấp những tác phẩm như “chỉ đi ra từ sách vở”, dường như với họ, điều đó đồng nghĩa với việc thiếu vốn sống thực tế, rằng các nhà văn thay bằng việc cuồng nhiệt đau khổ cùng các nhân vật trong sách, thay bằng việc mơ tưởng như từ xa xăm, hãy nếm trải đau khổ đi, hãy tiếp xúc thực tế… Câu hỏi về việc thế nào là thực tế, với mỗi người viết và người đọc, vẫn cần được gợi ra.

***

Tuy nhiên, cơ hội của việc đọc càng lớn thì hình như cơ hội của người viết trẻ ở Việt Nam không tỉ lệ thuận, mà có thể theo chiều ngược lại. Người viết văn trẻ ở Việt Nam hôm nay đứng ở ngã ba của những điều hoang mang.

Ngay ở tư cách người đọc, người viết phải đối diện với vấn đề ứng xử với di sản của quá khứ của dân tộc, đồng thời tiếp thu di sản và các thành tựu văn hóa của nhân loại như thế nào, bao hàm cả các sự kiện văn hóa đương đại đang diễn ra ở những trung tâm văn học của thế giới, ở những khu vực văn chương mới nổi – mà với cái gọi là “văn học thế giới”, Việt Nam hoàn toàn như “nằm ngoài”… Không thể lấy lí do “không có sách”, người viết phải “đọc” để bù lấp sự thiếu thốn, sự cạn kiệt, sự nghèo nàn của họ. Đồng thời những cái bóng lớn của quá khứ, thiểu số các nhà văn nhà thơ tài năng “được khám phá lại” bỗng hiện diện trong dáng vẻ những người khổng lồ đến nỗi nhiều người thấy rằng văn học Việt Nam hôm nay không còn gì để hi vọng. Điều ấy có vẻ như là một sự thực. Có vẻ như tất cả những nhà thơ lớn nhất và những nhà văn xuôi đáng kể nhất của Việt Nam đã thuộc về quá khứ, thậm chí chỉ là những người chết. Đây thực sự là một cuộc chiến không dễ dàng với chính mỗi người trẻ, không phải chỉ chống lại cái áp lực vô hình mạnh mẽ của cộng đồng đọc đang vây quanh họ, mà quan trọng hơn là sự đối diện thẳng thắn của cá nhân trong im vắng với cái gọi là “di sản”. Dường như người viết trẻ đang phải chịu áp lực quá nhiều từ một thứ di sản mà họ vốn không được thừa hưởng. Những di sản đã nằm trong bóng tối quá lâu, khi ra ánh sáng, chúng lộng lẫy, chói lòa, làm sững sờ, và người viết trẻ bỗng nhiên, chói mắt, ngã gục, khi chưa từng được tận hưởng vẻ đẹp của ánh sáng ấy. Và, trong con mắt của cộng đồng, họ bỗng trở nên không đáng kể. Tôi không nghĩ điều ấy là công bằng và thẳng thắn trong sự đối mặt của quá khứ và hiện tại, trong việc nhìn nhận lại quá khứ từ góc nhìn hiện tại. Những huyền thoại kín đặc làm bầu không khí trở nên khó thở. Sự lệch lạc trong tiếp nhận và đánh giá còn hằn lại những vết thương. Cùng với áp lực về các kiệt tác văn chương thế giới, gánh nặng đọc của người viết trẻ dường như là cả một sự thử thách.

Tôi không dám chắc những người viết trẻ Việt Nam có thể kể tên ngay những nhà văn mà họ yêu mến. Thiếu kí ức đọc, thiếu “di sản của mất mát”, kí ức sáng tạo của dân tộc đôi khi hiện hình như những căn nhà trống rỗng mà người viết vừa muốn trốn thoát vừa thấy không có quyền chối bỏ nó. Không được sống trong môi trường văn hóa thấm đẫm, không được thừa hưởng di sản, tiếp nhận văn chương của người viết trẻ ở Việt Nam vốn hỗn độn, lại luôn phải tìm kiếm một cách viết như thể “người mù sờ voi”, dù điều này vừa là điểm mặc cảm, vừa là một mảnh đất màu mỡ bề bộn để khai thác.

Tư cách người viết cũng đặt người viết trẻ trong những tình thế hoang mang ngoài nỗi hoang mang của cá nhân. Độc giả có nhiều quyền lựa chọn và họ là người quyết định chọn những tác phẩm xứng đáng với túi tiền của họ. Tôi biết có những bạn trẻ tự tin chỉ đọc sách Tây, sách ngoại. Trong khi đó, trừ một lượng độc giả ít ỏi quan tâm tới những tác phẩm văn học trong nước (như các nhà phê bình, nghiên cứu, các nhà báo viết điểm sách, giới văn chương) thì độc giả trong nước, nhất là các độc giả trẻ lại dễ dàng bị chinh phục bởi xu hướng văn chương đậm tính thương mại và giải trí, có cách viết đại chúng, dễ tiếp cận. Với một bộ phận nỗ lực tìm kiếm những cách làm mới văn chương theo hướng tiền vệ, thậm chí là những phá phách thì rất dễ dàng bị dán mác “ngoại nhập” “bắt chước” “học đòi” ngay trong chính cộng đồng đọc ở Việt Nam, và nỗi sợ bắt chước, nỗi sợ ngoại lai cũng đến trong chính bản thân người viết. Rào cản chính trị và kiểm duyệt là một nỗi ám ảnh lớn và thường trực, nhưng trong sự thay đổi của môi trường xuất bản giấy và mạng như hiện nay, thị trường văn chương và áp lực của thương mại cũng là một thách thức lớn không kém. Thách thức này đẩy người viết vào một không gian tương tác rộng hơn. Văn chương không chỉ là cuộc tranh đấu cho tự do sáng tạo đúng nghĩa, tự do ngôn luận, cho sự tồn tại dân chủ mà còn phải, tự thân nó chống lại áp lực của thương mại song song với việc tìm cho mình một “thị trường”. Việc “tìm kiếm thị trường” này còn gây hoang mang hơn nữa: Đông Nam Á vẫn là một vùng trũng quá sâu, và các tác phẩm viết bằng tiếng Đông Nam Á có rất ít cơ hội xuất hiện bên ngoài quốc gia đó, những trường hợp, chẳng hạn viết bằng tiếng thổ dân và được dịch ở nhiều nơi như Ngugi wa Thiongo chỉ là ngoại biệt.

***

Mặc dù sinh ra vào đúng thời điểm của Đổi Mới, tình trạng sách vở của thế hệ chúng tôi không thật sự có những điểm thay đổi lớn, và thậm chí hôm nay khi đọc lại các sách vở cũ, của tiền chiến hay của miền Nam trước năm 1975, tôi luôn cảm thấy một nỗi ghen tị mơ hồ về một không khí bầu bạn với sách vở của các thế hệ người viết cách chúng tôi đã vài thập kỉ. Và một phông nền văn hóa mang tính cập nhật với những gì đang diễn ra ở các vùng khác trên thế giới vẫn là một cái gì thiếu hụt ở người viết trẻ hôm nay, như những gì mà tôi cảm thấy từ cá nhân mình và bạn bè viết.

Từ những cuốn sách thuở nhỏ, cộng với nỗi cô đơn, sự vắng lặng một mình mà tôi đã viết những dòng thơ đầu tiên, các câu chuyện, và tôi viết… cho đến khi tôi nhận thấy viết là trạng thái mong muốn thường trực, và từ đây, tôi phải đối diện với một nỗi hoang mang không thôi. Không thể giữ mãi những ảo tưởng tốt đẹp về sách vở, bây giờ tôi đang phải tìm cách lí giải cho “tiểu sử đọc” của chính mình, và bạn bè tôi nhiều người chia sẻ điều đó, tất cả đang phải làm một cuộc chạy đua để hòng trốn thoát nỗi hoảng sợ khi đối diện với kí ức trống rỗng của việc đọc đó, một thứ kí ức sẽ hằn sâu trong máu thịt của một người viết.

Vậy thì có một con đường nào cho những người viết ở Việt Nam hôm nay? Tôi vẫn nghĩ vẫn còn những “khe cửa hẹp”, mà cơ hội đọc đồng thời cũng sẽ đem lại cơ hội phát hiện lại chính mình, xói mòn dần nỗi tự ti văn hóa. Đấy liệu có thể là cách tạo một “thế giới chơi” mới, một không gian chơi mà những quyền lực văn hóa cũ sẽ dần dần bị chiếm chỗ, để thay vào đó là hình thành dần những lớp người đọc và người viết khác?

Nhưng cùng lúc đó, những dòng chữ trong trang sách Trần gian muôn màu của André Gide lại vang vọng những lời trò chuyện với Nathanaél: “Và khi nào em đọc xong, hãy liệng cuốn sách này đi và ra ngoài…. Cuốn sách của anh dạy cho em quan tâm tới chính em hơn là nó – sau đó tới tất cả những gì còn lại hơn là chính em”.

H. 5.04.2011 – 18/01/2012

Nhã Thuyên

One comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s