Văn chương của sự hội tụ – O.Paz

Đọc các tiểu luận của O.Paz, tôi thường tìm thấy sự đồng điệu/cảm đôi khi đến lạ lùng, trong những thời điểm tôi nghĩ về văn chương VN. Đôi khi những ý nghĩ của mình, bởi là kẻ đi sau, bỗng dưng như trở thành những ý nghĩ vay mượn và tự chúng không muốn hiện diện nữa. Những bản dịch (chủ yếu là từ một, hai năm trước) còn nhiều sai sót của tôi trước hết là một hứng thú cá nhân sơ khai với các tác giả văn chương Mỹ Latin, nhưng cũng là một sự chia sẻ những ý tưởng nảy ra sau mỗi ưu tư, những ưu tư thường khởi phát – và do đó “bị trói buộc” bởi một “hiện thực tức thời” nào đó, và rồi chính những ý tưởng/ưu tư này lại cần được vượt qua. Đó là cách tôi đang nghĩ về việc ngoái đầu lại nhìn quá khứ mà vẫn phải gắng cân bằng để đi về phía trước. Cái tình thế thách thức này tôi đã được “mở mắt” từ một lá bài Tarot ( Cân lên đặt xuống hoài thì Rider Waite desk là lựa chọn của mình:)

7_of_swords

 Vùng đất Mĩ Latin được biết lại không chỉ vì những đóng góp cho kho tàng folklore chính trị u ám của thế kỉ XX, mà còn bởi các tác phẩm của nhà văn và nghệ sĩ của khu vực này. Nếu thế kỉ trước (XIX) đánh dấu sự hiện diện của hai nền văn chương vĩ đại, Hoa Kỳ và Nga, thì thế kỉ này chứng kiến sự hiện diện của văn chương Mỹ Latin, viết bằng tiếng Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha. Sự mới lạ có tính lịch sử của các dân tộc chúng ta không nằm trong những biến động không may hay những chế độ tàn bạo, mà nằm ở lượng tác phẩm thơ, tiểu thuyết và truyện ngắn, ít ỏi nhưng đặc sắc, ngoại biệt. Nhờ vào lượng nhỏ tác phẩm này, văn chương thế giới trong nửa sau thế kỉ này giàu có hơn và đa dạng hơn. Tuy vậy, tôi phải thú nhận rằng, thật khó để tôi nói và viết về văn chương của Mỹ Latin; bên cạnh khó khăn vốn có của chủ đề nặng nề và rộng lớn này, trong trường hợp của tôi, có một khó khăn khác thật sự không dễ vượt qua chút nào: không thể vừa là một thẩm phán công bình, vừa là một người chỉ quan tâm tới hứng thú riêng. Cái nhìn của tôi không tránh được là một cái nhìn thiên vị – cái nhìn không phải của một khán giả mà của một diễn viên. Ý kiến và quan sát của tôi là biểu hiện của quan điểm hết sức cá nhân này và là một sự bày tỏ hơn là một lý thuyết.

Văn chương là những hiện thực phức tạp; tác giả viết ra tác phẩm và nhà xuất bản mang tới người đọc, công chúng và nhà phê bình tìm đọc hay bỏ mặc chúng trong quên lãng. Tất cả các yếu tố này tham dự vào hiện tượng văn chương, không phải như các thực thể đơn lẻ mà như các phần của một tổng thể trong sự trao đổi và mối quan hệ liên tục. Tác giả viết ra tác phẩm, và người đọc, bằng việc đọc nó, sáng tạo lại, xây dựng lại hay chối bỏ nó; rồi tác phẩm mang lại thay đổi nào đó trong thị hiếu, tinh thần, hay ý tưởng của người đọc; và cuối cùng, ý kiến và phản ứng của người đọc sẽ ảnh hưởng tới tác giả. Bởi vậy, văn chương là một mạng lưới quan hệ, hay chính xác hơn là một hệ mạch của giao tiếp, một hệ thống thông điệp luân phiên và ảnh hưởng tương hỗ giữa tác giả, tác phẩm và người đọc. Có thể nói thêm rằng, đó là một hệ thống trong sự luân chuyển bất tận. Việc xuất bản một tác phẩm mới thay đổi trật tự và vị trí của những tác phẩm khác đã ra đời trước đó; điều tương tự cũng có thể nói về sự hiện diện của mỗi thế hệ người đọc và nhà phê bình. Sau Freud, chúng ta đọc Sophocles với những con mắt khác. Dù cho thị hiếu và quan niệm của người đọc được tạo thành bởi tầng lớp xã hội, giáo dục, tuổi tác và môi trường, mỗi người đọc luôn là một cá thể độc đáo, và hơn thế nữa, bản thân mỗi người đọc ấy không bao giờ đứng yên một chỗ. Quan niệm và thị hiếu của chúng ta hôm nay đã không còn là quan niệm và thị hiếu của ngày hôm qua. Điều này cũng đúng với tác giả: ngoại trừ cái tên, tác phẩm của thi sĩ Jon Donne phóng đãng và Reverend Donne, nhà thuyết giáo và người đứng đầu tu viện Saint Paul, hầu như rất ít hoặc không có điểm chung.

Điều tôi nói liên quan tới tác giả và người đọc cũng có thể ứng với tác phẩm. Cho dù phê bình cấu trúc đã chứng minh sự tồn tại của các yếu tố cố định, bền vững trong mỗi hình thức văn chương, thì điều hiển nhiên là mỗi tác phẩm mang giá trị thực đều sở hữu phẩm tính riêng biệt và một hương vị độc đáo khó trộn lẫn. Cấu trúc của Odyssey, của Aeneid, và của Lusiads có thể tương tự, nhưng mỗi tác phẩm này lại khác nhau và không thể quy về tác phẩm khác. Văn chương là một quan hệ giữa những hiện thực không lặp lại, luôn biến đổi: tác giả, tác phẩm và người đọc. Bởi vậy không thể quy giảm một nền văn học thành một vài đặc điểm chung. Ngoại trừ ngôn ngữ Tây Ban Nha, có gì chung giữa trí tuệ phổ thông của Martín Fierro và chủ nghĩa trữ tình cá nhân của Rubén Darío, giữa những hư cấu siêu hình của Borges và Ulises criollo của José Vasconcelo, giữa Primer sueňo (Giấc mộng nguyên thủy) của Juana Inés de la Cruz và Residencia en la tierra (Trú xứ trên mặt đất) của Pablo Neruda?

Cũng như, hay còn hơn cả một hệ thống quan hệ, một nền văn chương là một lịch sử: lĩnh vực của cái cụ thể, cái thay đổi, và cái không thể tiên đoán. Một lịch sử trong lịch sử rộng lớn được cấu thành từ mọi nền văn minh, mọi ngôn ngữ và mọi xã hội. Dẫu sao, những lý giải có tính lịch sử với mạng lưới phức tạp các nguyên nhân xã hội, kinh tế, chính trị và ý thức hệ không bao giờ hoàn toàn lý giải được văn chương. Mỗi một tác phẩm nghệ thuật có một yếu tố – thơ ca, sự tưởng tượng, ai biết được điều gì? – không thể quy giảm thành các quan hệ nhân quả có tính lịch sử. Văn học Mỹ Latin không phải là ngoại lệ: nó được sinh ra và sống cùng với lịch sử của các dân tộc chúng ta, nhưng sự phát triển của nó không thể được giải thích đơn giản bằng hành động của các lực lượng chính trị, xã hội và lịch sử. Sự ảnh hưởng của truyền thống văn chương, chẳng hạn, có thể còn mạnh mẽ hơn các điều kiện xã hội.

Bất chấp những khác biệt lớn giữa xã hội Mỹ Latin và xã hội Hoa Kỳ, vẫn có một điểm chung đặc sắc giữa nền văn chương của Hoa Kỳ, Brazil, và dòng văn học tiếng Tây Ban Nha ở châu Mỹ: chúng đều sử dụng một ngôn ngữ châu Âu được bứng sang, cấy ghép ở bán cầu của chúng ta. Điều này đánh dấu đặc trưng của các nền văn chương châu Mỹ theo một cách thức sâu sắc và triệt để hơn so với các cấu trúc kinh tế cũng như các thay đổi trong công nghệ và chính trị. Ba nền văn chương này ngay từ buổi đầu đã nỗ lực phá vỡ những ràng buộc của sự phụ thuộc gắn kết chúng với văn chương Anh, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Mục đích này được theo đuổi và đạt được thông qua một chuyển động kép: họ vừa nỗ lực tìm cách tiếp biến các hình thức và phong cách văn chương thịnh hành ở châu Âu, vừa cố gắng tìm cách để thiên nhiên của lục địa châu Mỹ và những cộng đồng dân tộc sống trên mảnh đất này được cất lời. Nó vừa mang tinh thần của chủ nghĩa thế giới (cosmopolitanism) và vừa là biểu hiện chủ nghĩa bản địa (nativism). Hoặc như cách nói của nhà phê bình Hoa Kỳ Philip Rahv: đó là cách thức của hai chủng tộc nhà văn, “mặt tái” và ”da đỏ”, cách của những Henry James và những Walt Whitman. Ở vùng Mỹ nói tiếng Tây Ban Nha, hai thái độ này đại diện, một cách tương ứng, bởi thứ truyền thống kết nối Darío với Reyes và Borges, và bởi truyền thống đi từ Sarmiento tới Vallejo.

Sự đối lập giữa các nhà văn thế giới hóa hay châu Âu hóa và các nhà văn theo chủ nghĩa bản địa hay châu Mỹ hóa, phân chia ý thức văn học của châu Mỹ Latin đến mấy thế hệ. José Enrique Rodó đã chào đón sự xuất bản cuốn Prosas profanas, một tập sách của Rubén Darío là biểu hiện đỉnh cao của chủ nghĩa tượng trưng trong giai đoạn đầu tiên, một tác phẩm của một nhà thơ lớn, mới mẻ và tinh tế; tuy nhiên, ông biểu lộ sự tiếc nuối rằng cả con người tiêu biểu và thiên nhiên lục địa châu Mỹ đều không hiện diện trong công trình ngôn ngữ đáng ngạc nhiên này. “Ông ấy là một nhà thơ lớn”, Rodó nói, “nhưng ông ấy không phải là nhà thơ của chúng tôi”. Sau đó, nhiều năm sau, tính từ “thuộc về đất” (telluric) được ưa dùng; các nhà phê bình văn chương đã dùng từ này, thường như một thuật ngữ để ca ngợi, để nhấn mạnh về một nhà văn bắt rễ sâu trên mảnh đất của lục địa châu Mỹ. Tôi còn nhớ rõ lần đầu tiên tôi gặp Gabriela Mistral, giờ đã gần bốn mươi năm trôi qua, bà thật tốt bụng khi ngỏ ý muốn xem thơ tôi. Không có gì tự nhiên hơn: bà đã được giải Nobel và tôi chỉ là một nhà văn vô danh, một kẻ mới bắt đầu. Vui sướng, tôi đã làm như bà đề nghị, gửi cho bà một ít bài trong tập sách đã xuất bản của tôi. Vài ngày sau, chúng tôi ngẫu nhiên gặp lại nhau ở nhà một người bạn chung; khi thấy tôi, bà lịch thiệp chào hỏi, với những từ ngữ đầy vẻ nuối tiếc và như là khiển trách: “Tôi thích các bài thơ của anh, dù những gì tôi cảm thấy không chỉ có vậy. Anh có thể thật sự là một nhà thơ châu Âu; nhưng với khẩu vị của tôi, anh không đủ thuộc về đất.” Gương mặt tôi lúc đó đã chuyển sang tái đỏ, khi tôi nghe được tính từ chết chóc đó: số tôi đã tận. Không “thuộc về đất” là một khuyết tật bẩm sinh, như thể bị điếc bẩm sinh trong vùng đất của các nhạc sĩ vậy.

Ngày ấy, tôi đã hình dung một nhà thơ “thuộc về đất” như một cái cây thiêng liêng, với thân lớn, tán lá xum xuê và vô số rễ cây cắm sâu vào mặt đất của châu Mỹ bản địa. Bộ râu của Whitman gây ấn tượng đối với tôi như là bộ rễ trên không của cây đa (banyan), cây thiêng của Ấn Độ vậy. Tôi tự an ủi với ý nghĩ rằng nhà thơ Vicente Huidobro chưa từng một lần nào thể hiện ước muốn, dù là ít ỏi nhất, về gốc rễ. Ông thậm chí còn biện hộ cho nhu cầu cắt lìa khỏi gốc rễ; để bay lên – và với ông, thơ ca là nghệ thuật bay bằng lời – và do đó, điều cần thiết cho nó không phải là gốc rễ mà là những đôi cánh. Thơ của Neruda, ngược lại, lại được thôi thúc chính từ trong một chiều hướng đối lập hẳn, và trong một bài thơ, ông đã so sánh đôi chân mình với những cái rễ cây. Dễ hiểu vì sao tập thơ hay nhất của ông lại được đặt tên Trú xứ trên mặt đất (Residencia en la tierra).

Hôm nay tôi mỉm cười khi nhớ tới Gabriela Mistral và chủ nghĩa thuộc về mặt đất (tellurism). Ai sử dụng từ đó ngày hôm nay? Sự chia tách nhà văn thành các nhà văn thế giới và các nhà văn châu Mỹ, thành những kẻ lơ lửng trên không và những kẻ bám rễ sâu vào đất thực ra là một phân loại giả tạo và không phản ánh thực chất của văn chương chúng ta. Những tác giả vĩ đại nhất của chúng ta là nhà văn quốc tế đồng thời là người châu Mỹ, chân họ đứng trên mặt đất và đầu họ gối trong mây. Hay là ngược lại: một số người khác tìm cách bay lên và những người khác lại bay xuống; có những người là các thợ mỏ của độ cao còn những người khác lại là các phi hành gia của chiều sâu. Darío, một nhà văn kiểu Pháp hóa[1] đã viết những bài thơ đầy màu sắc châu Mỹ rạng rỡ, đồng thời vẫn có thể nói về người Peru bằng ngôn ngữ của họ về xương và đá mặt trăng; César Vallejo đầu tiên phải tiếp nhận cách tân của phái tiền phong châu Âu sau Thế Chiến I. Điều tương tự cũng có thể dành để nói về các tác giả châu Mỹ viết tiếng Tây Ban Nha vĩ đại khác. Hai thái độ này không nên được xem như là các khuynh hướng chia rẽ và có tính đối kháng mà nên được xem như những đường giao cắt, chia biệt, đan chéo, và lại chia biệt nhau, tạo thành một tấm thảm sống động. Tấm thảm này chính là văn chương của chúng ta. Chúng ta, những nhà văn Mỹ Latin, như những nhà văn Hoa Kỳ, sống ở đâu đó giữa truyền thống châu Âu, chúng ta thuộc về nơi đó bởi những phẩm chất của ngôn ngữ và nền văn minh của chúng ta, và hiện thực của châu Mỹ. Với chúng ta, những người dân châu Mỹ nói tiếng Tây Ban Nha, truyền thống gốc, cái thuộc về chúng ta rõ nhất, cái truyền thống khởi nguyên của chúng ta là truyền thống Tây Ban Nha. Chúng ta viết từ truyền thống đó, hướng tới nó, hay là chống lại nó; đó là điểm khởi hành của chúng ta. Bằng việc từ chối nó, chúng ta tiếp tục truyền thống đó, và bằng việc tiếp tục nó, chúng ta thay đổi nó. Một mối quan hệ vừa quyến rũ vừa đồng thời gây bút chiến được lặp lại với văn chương tiếng Anh và tiếng Bồ Đào Nha ở bán cầu chúng ta. Gốc rễ chúng ta là người châu Âu, nhưng chân trời của chúng ta là mảnh đất và lịch sử của các dân tộc châu Mỹ. Văn chương Mỹ Latin đơn giản là sự cộng gộp các câu trả lời, không câu nào giống nhau, mà chúng ta đáp lại câu hỏi được đặt ra bởi chính hoàn cảnh cội nguồn của mình.

Sự đối lập giữa chủ nghĩa thế giới và chủ nghĩa châu Mỹ là một sự đối lập tương trợ; hai thái độ này là hai mô hình của lương thức châu Mỹ, bị giằng xé giữa hai thế giới. Chúng là hai giai đoạn của cùng một cuộc phiêu lưu tâm linh và tri thức. Chủ nghĩa thế giới là cuộc phá vây từ bản ngã và hiện thực của chúng ta để đi ra; chủ nghĩa châu Mỹ lại là sự trở về với những gì chúng ta là, trở về với nguồn gốc của mình. Để trở về, người ta phải mạo hiểm đi ra; để không biến mất trong khoảng trống, những kẻ phá cũi xổ lồng phải trở lại điểm xuất phát. Chủ nghĩa thế giới và chủ nghĩa châu Mỹ (chủ nghĩa bản địa) là hai thái cực của mối quan hệ biện chứng giữa mở ra và khép kín. Trong bản đồ văn chương châu Mỹ viết bằng tiếng Tây Ban Nha – Brazil là một trường hợp tách biệt – hai cực này được đại diện bởi hai thủ phủ văn chương, Buenos Aires và Mexico City. Một nơi với cái nhìn riêng của nó tập trung vào Châu Âu, và một nơi bị bao quanh bởi núi non; một nơi chỉ khoác chiếc áo mỏng mảnh của quá khứ, một nơi bị kéo trĩu bởi những truyền thống lâu đời và chứa đựng nhiều mặt mâu thuẫn nhau. Tôi, dĩ nhiên, đang nói về hai thành phố này như các biểu tượng lí tưởng hơn là các thực thể cụ thể. Buenos Aires và Mexico City đại diện cho những khuynh hướng lịch sử nhưng cả tác phẩm lẫn các tác giả của hai thành phố này đều không phải lúc nào cũng trung thành với những mô hình nhận thức này. Chúng ta có thể nào quên, chẳng hạn, chính ở Argentina, Martín Fierro đã được sáng tác – đó là một tác phẩm của châu Mỹ viết bằng tiếng Tây Ban Nha, là sự phản ánh chính xác và hoàn thiện nhất của những tham vọng, những nguy hiểm, những giới hạn của chủ nghĩa truyền thống và chủ nghĩa vùng miền? Và chẳng phải José Gorostira, một thi sĩ Mexico, tác giả của tác phẩm nghiêm ngặt nhất trong thơ hiện đại của chúng ta, Muerte sin fin (Cái chết không kết thúc), là một tượng đài trong suốt nhưng cứng cỏi mà những vẻ duyên dáng đầy cám dỗ cùng những hiệu ứng dễ dãi của màu sắc địa phương và lời nói thông thường không thể chạm vào được.

Tiến trình này mang tính chu kỳ. Có những thời kì trong đó cảm quan hướng ngoại và tình yêu đối với sự khám phá, du hành chiếm ưu thế, và những thời kì khác thì các khuynh hướng tự hấp thụ, hướng nội, và sự trầm tưởng lại nổi bật hơn. Một ví dụ cho thời kì hướng ngoại là giai đoạn đầu của chủ nghĩa hiện đại châu Mỹ – Tây Ban Nha, giữa những năm 1890 và 1905, thể hiện rất rõ ở ảnh hưởng của Chủ nghĩa Tượng trưng châu Âu trong thơ và ảnh hưởng của Chủ nghĩa Tự nhiên trong văn xuôi. Nối tiếp giai đoạn này, khoảng năm 1915 là cái mang tên Chủ nghĩa Hậu hiện đại, thể hiện một sự trở lại với bán cầu của chúng ta và với ngôn ngữ thông tục. Một ví dụ khác, gần với chúng ta hơn, là thời kì phát triển phong phú của trào lưu tiền phong, giữa năm 1918 và 1930. Đây là thời kì kiếm tìm và thể nghiệm. Nhiều trào lưu nối tiếp nhau của châu Âu, từ Chủ nghĩa Biểu hiện (Expressionism) tới Chủ nghĩa Siêu thực (Surealism), có ảnh hưởng sâu sắc tới các nhà thơ và các tiểu thuyết gia của chúng ta. Giai đoạn đầu này, giai đoạn mà chúng ta đã mắc nợ nhiều tác phẩm nổi bật với hình thức biểu đạt cực kỳ táo bạo, được nối tiếp bởi một thời kì khác với đặc trưng là sự tái cấu trúc, sự củng cố thành quả đã đạt được, và sự sáng tạo các tác phẩm ít nợ nần hơn với những khuynh hướng đương thời ở châu Âu. Tiếp ngay sau các nhà văn tiền phong, những người đã xuất hiện trong những năm 1920, một nhóm mới góp mặt trong đời sống văn chương trong khoảng năm 1940, thế hệ của tôi. 15 năm sau, một nhóm khác nối tiếp nhóm này, trong đó có nhiều tiểu thuyết gia thực sự nổi bật. Bởi vậy trong nửa sau của thế kỉ XX này có ba thế hệ đã cùng chiếm giữ sân khấu (không kể tới thế hệ trẻ hơn kế tiếp). Trong ba thế hệ này, có thể thấy rất rõ một nhịp điệu song hành của đứt gãy và sự trở lại mà tôi đã đề cập ở trước. Mối quan tâm đầy ám ảnh về cái mới, sự thể nghiệm và sự kiếm tìm hình thức mới được nối tiếp bởi một nền văn chương say mê khám phá hiện thực và ngôn ngữ. Một cuộc trở lại với những cội nguồn nhưng cùng lúc là cuộc chinh phục những địa hạt mà trước đó trí tưởng tượng thi ca chưa chạm đến.

Trong nhiều năm nay, đặc biệt là từ sau Thế Chiến II, và trong hầu như mọi ngõ ngách trên địa cầu, có sự xuất hiện nhiều khuynh hướng và các trào lưu có tính chất ý thức hệ tiên báo, dưới nhiều hình thức đa dạng, sự khai sinh của một thứ được đặt cho cái tên khổ sở là “văn chương dấn thân” (literatura comprometida)[2] . Các nghệ sĩ cố gắng giữ vai trò trong lịch sử đời sống, thế nhưng hầu như họ luôn nhầm tưởng chính trị là lịch sử. Chính họ thường trở thành kẻ phục vụ ý thức hệ dẫn tới việc bị biến thành nhà tuyên truyền. Cụm từ “nghệ thuật cam kết” (committed art) thực sự đã bị lung lay: nó đưa ra một định lý rằng lịch sử là một chuyển động đi lên, và rằng chuyển động này được biểu hiện, trong thời đại chúng ta, bởi một giai cấp được lãnh đạo bởi một đảng phái, đảng này lại được điều hành bởi một ủy ban, và ủy ban này lại được điều hành bởi một chủ tịch. Ít, rất ít điều gì giá trị còn giữ lại ở nghệ thuật ý thức hệ này. Điều buồn nhất về nó không phải là sự nghèo nàn về mĩ học của các tác phẩm nó tạo ra, mà là sự mất mát của một khuynh hướng đạo đức và chính trị khỏe khoắn: “sự tiến bộ của lịch sử” dẫn tới trại tập trung và chế độ quan liêu độc tài.

Tình huống của văn chương Mỹ Latin đương đại, một cách tất yếu, không khác biệt với các khu vực còn lại của thế giới và có thể được đặc trưng bằng hai đặc điểm. Đặc điểm thứ nhất là sự biến mất của những trường phái và khuynh hướng làm sống động các trào lưu tiền phong của nửa đầu thế kỉ XX. Đặc điểm thứ hai là sự vỡ mộng ý thức hệ; những thiên đường biến thành các nhà tù và giấc mơ về một xã hội đầy tình bằng hữu và tự do đã hóa đá – những trại lính thay vì các quân đội. Nhưng buổi hoàng hôn của những trào lưu nghệ thuật tiền phong và sự mất uy của các ý thức hệ chính trị cũng không biểu thị sự từ chối nghệ thuật hay sự trốn tránh đối diện với lịch sử. Trong những trang kết luận của một cuốn sách mà tôi có dành đề cập tới chủ đề này (Los hijos del limo, 1973)[3], tôi đã chỉ ra rằng, trong khi nghệ thuật của quá khứ gần với ta nhất đã phát triển dưới dấu hiện đứt gãy, nghệ thuật của thời đại chúng ta lại được phát triển dưới dấu hiệu của sự hội tụ: sự giao cắt của nhiều thời đại, nhiều không gian, và nhiều hình thức. Sự kết thúc của thế kỷ này cũng là sự trở về của nhiều thời đại; bây giờ chúng ta khám phá những gì mà người xưa đã biết: lịch sử là một hiện diện trống rỗng, một gương mặt trống. Nhà thơ và tiểu thuyết gia phải khôi phục lại những đặc điểm nhân tính của gương mặt này. Đó là một nhiệm vụ đòi hỏi trí tưởng tượng, và sự dũng cảm đạo đức nữa. Văn chương mà chúng ta viết không quay lưng lại với lịch sử, dù nó từ chối sự đơn giản hóa của nghệ thuật mang tính ý thức hệ cùng những khẳng định và phủ định có tính chất phạm trù của nó. Đó không phải là nghệ thuật của sự tất định mà là nghệ thuật của sự khám phá; đó không phải là một thứ thơ ca chỉ ra con đường mà là thứ thơ ca kiếm tìm con đường ấy. Đó là nghệ thuật và thơ ca phác ra dấu hiệu mà từ buổi hồng hoang, nhân loại đã nhìn thấy trong bầu trời: một dấu hỏi. Những bàn tay trỏ dấu hiệu này có thể là người Mỹ Latin, nhưng ý nghĩa của hành động đó là phổ quát.

19.12.2012

Nhã Thuyên chuyển ngữ từ bản tiếng Anh A literature of Convergences của Helen Lane, trong cuốn Convergences, Octavio Paz, Harcourt Brace Jovanovich, 1987.


[1] francesado: Người tiếp nhận phong cách sống, lối ứng xử, kiểu ngôn ngữ nói và các hình thức văn chương Pháp.

[2]  Cách diễn đạt tiếng Tây Ban Nha từ thuật ngữ “littérature engagée” của Sartre.

[3] Bản tiếng Anh”Children of the Mire” (Những đứa trẻ trong vũng lầy), 1974.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s