Kaitlin Rees – an infinite ending | bất tận cuối

(After words by Kaitlin Rees for | lời bạt của Kaitlin cho  từ thở, những người lạ | words breathe, creatures of elsewhere))

9789781922183-Perfect-page-001

 

 an infinite ending

                                                                                                Kaitlin Rees

 

to start the final words here is

 

nỗ lực

| an effort | an exertion |

| like to walk through thick mud | like to get out of bed when it’s raining |

 

because it means, supposedly, an ending of a book that i don’t want to end

 

 

though it’s not that the book has always been a pleasure, just as art, poetry, and love không bao giờ giản đơn là sự thỏa mãn | are never simply a comfort. the translation work has pained me as much as comforted me, or perhaps the traces of pain just linger more loudly in memory. specifically i remember my lower back aching, feeling a stabbing somewhere inside my right shoulder, and my left eye once wearying to uncontrollable tears

 

 

and it’s not even a work i can say i understand, here in the after words, any more than i understand my own heart. between my slippery grasp of the original language, the slipping selves of the windy wandering author, who says:

 

 

“actually all the creatures (birds, she, i) are different selves/ forms of one self. always in my poems. i guess or in my life. shattered body and mind and heart into fragments of selves. that’s why i called myself a (poetical) case of schizophrenia, or i am, and i am unsure who i am what i am, maybe one can be anyone anything and no one nothing :-d”

 

 

and then my own tendency to:

 

tan

| fade | melt | dissipate | dissolve | scatter | evaporate | disperse |

(calling to mind the notion of its look alike):

 

tàn

| decay | wither | wane | erode | become ash |

 

into various selves and abstractions, with a penchant for silent cloud watching, without demanding much in terms of an explanation, particularly from love

 

 

and even now, as i write this infinite ending, the question creeps in: who said that? was it her, was it me?

 

 

i have spent long hours with the language of this book and its author, and i feel unsure now who speaks in me. when taking in the language of another, in deeply trying to understand it, then understanding that it’s really a matter of feeling it, then in feeling the language of another in your body, it alters you on the inside, maybe like an infection, which through exposure, makes you stronger

 

 

the truth is, the author is inside me now, after all her words that became mine, and i embrace her in there, with love

 

 

the process of learning and feeling and translating this book has gifted me many chances to consider otherness and love. i have come to believe, here in the after words, that love is itself a radical politics

N.T: “the word radical makes me nervous somehow”

K.R: “but not radical in the starting a revolution way, not radical in the fanatical way where you believe with such obsessive focus that you try to force others to believe too, but rather radical in the sense of having the potential for a profound and far reaching impact on every encounter in life”

 

love makes one

 

lạ

| strange | anomalous | foreign | unfamiliar | irregular | warped | weird | from outside | from elsewhere | deviating | other |

 

love, when open and vulnerable to it, makes us something of the stranger, to ourselves, we become new, the world becomes unfamiliar, everything becomes

 

lạ

| lạ people | lạ faces | lạ beings | lạ foreigners | lạ voices | lạ languages | lạ forests | lạ love | lạ fish | lạ grass | lạ birds | lạ feeling |

and to feel the recognition of that, that we are the other, is to start to live in a more human way

 

 

NT: “i often think of perception as a special ability in love”

 

in saying          i love you         the most cliché of phrases to write in poetry, i feel nhã thuyên piercing through the private sphere, hers and maybe ours too, and into the air mingles all these precious things we nurture and try to protect for and inside ourselves. in opening that personal world it somehow becomes not just hers. there are several moments in these pages when action seems to occur without subject, as in the neutral indicative (innocent) form of words. the words become a biographical book in which the borders of biography are let open to other beings

 

 

and as one being can become many, time also can be mesmerizingly vague, in Vietnamese in general, and the Vietnamese of nhã thuyên in particular, a playing with time that brings down its borders

 

 

as with “a dream vividly occurring in the present” in the prisoner, the time of dream, the time of memory, and the time of now, are all

 

braided

as-one-as-in-telling-the-story-of-a-dream-

-though-it-is-past-we-speak-in-the-present-because-in-telling-we

-visit-that-time-and-we-are-there-as-in-remembering-

-a-dream-and-in-dreaming-of-what-will-or-not-or-

did-or-not-our-telling-is-as-everything-happening-

now-we-are-present-there-in-the-future-past

 

happening           then                          and                  again      it will             it was

going to                and never                 always         back                     after

now                                    and                                         now

 

 

N.T: “future, past, present – big dead words”

(traces of nothing)

 

the uncertainty of time, for all the anxiety that uncertainty tends to produce, in these pages feels more consoling. there is warmth in feeling that nothing past is gone, and that everything to come is already here

 

but what about an accurate translation?

 

and what about after these words get hóa bê tông | cemented in the ink of finally printed pages?

 

 

tôi biết những điều không trở lại nhưng không biết điều sẽ đến

 (traces of nothing)

– i know what isn’t here that once was but not what isn’t here that never was

 

– i know the present by looking at the past but i don’t know the present by

looking at the future

 

– i know what’s not here that used to be but not what will be here

 

– i know what has not come back but not what is to come

 

 

 

this work of translation has been a conversation, many conversations, and many that will still come even after it’s death. because in a way, the publishing of a book is a death as much as it is a birth and this is something i think i must have learned from reading these pages.

 

once i met a book and it was full of

 

darkness and deep bottoms

=

| ánh sáng | light | luminosity | brightness |

| a radiant glow | a sheen | a shine | a glimmering |


049

bất tận cuối

Kaitlin Rees

 

 

 

bắt đầu lời cuối này là một

 

nỗ lực

| an effort | an exertion| 

| như đi qua bùn lầy | như gắng ra khỏi giường khi trời đang mưa|

bởi vì điều đó có nghĩa là, được cho rằng, sự khép lại một cuốn sách mà tôi không muốn khép lại

 

 

cho dù cuốn sách này đâu phải lúc nào cũng là một niềm vui, và như nghệ thuật, thơ ca, và tình yêu không bao giờ giản đơn là sự thỏa mãn. việc dịch cuốn sách này làm đau tôi ngang ngửa làm êm tôi, hay có lẽ, những dấu vết của cơn đau bao giờ cũng nán lại dai dẳng ồn ào hơn trong ký ức. tôi nhớ cơn đau tức hông, tôi đã cảm thấy cơn đau đâm xuyên đâu đó vai phải, và mắt trái tôi đã một lần rã rời những giọt nước mắt bất khả kiểm soát

 

 

và đây thậm chí chẳng phải một tác phẩm tôi có thể nói rằng mình hiểu được, trong những lời cuối này, chẳng khá hơn gì việc tôi hiểu trái tim mình. giữa sự nắm bắt chông chênh của tôi về ngôn ngữ gốc, những cái tôi chuếnh choáng trượt đi của kẻ viết nặng tình mênh mông trăng gió này, người nói:

 

 

“thực thì tất cả những sinh vật này (những con chim, cô ấy, tôi, v.v. là những cái tôi/các dạng khác nhau của một cái tôi. luôn luôn trong các bài thơ của mình. hay trong đời mình. cơ thể và tâm trí và trái tim tan tác thành những mảnh vỡ của những cái tôi. tôi đã coi mình như một trường hợp [thơ tính] của chứng tâm thần phân liệt là vậy đó, hoặc mình là vậy, và tôi không chắc mình là ai là gì, có thể một người có thể là bất cứ ai bất cứ gì và không ai không gì :-d.”

 

 

và tôi cũng có khuynh hướng

 

tan

| fade | melt | dissipate | dissolve | scatter | evaporate | disperse |

| phai | tan | tán | hòa tan| phân tán | hóa hơi | tan tác |

 

 

(nghe như )

                                                            tàn

| decay | wither | wane | erode | become ash|

| tàn | héo | suy | mòn | ra tro |

thành những cái tôi và những trừu tượng lơ đãng đổi dạng, với một bản thể thiên nhiên muốn lặng ngắm mây im trôi, mà không đòi hỏi quá độ những giải thích, nhất là từ tình yêu

 

 

và thậm chí giờ đây, khi tôi viết những dòng này, những câu hỏi trườn qua: ai nói thế? là kẻ ấy hay là tôi?

 

 

tôi đã dành hàng giờ triền miên với cuốn sách này và với kẻ viết này, giờ đây tôi chập chờn không biết ai đang nói trong tôi. khi thăm dò ngôn ngữ của một kẻ khác, nặng lòng muốn hiểu ngôn ngữ đó, rồi hiểu rằng đó thực sự là chuyện cảm thấu nó, và khi cảm thấu ngôn ngữ của kẻ khác trong cơ thể ta, nó sẽ thay lọc ta từ bên trong, có thể như sau một cơn bệnh, trong quá trình phơi bày, làm ta mạnh mẽ hơn

 

 

sự thực là, kẻ viết này ở trong tôi bây giờ, sau rốt, tất thảy ngôn từ của kẻ ấy trở thành của tôi, và tôi ôm mang, đó, với yêu thương

 

 

quá trình học và cảm và dịch cuốn sách này tặng tôi thật nhiều dịp ngẫm nghĩ về cái khác và về tình yêu. ở đây, trong những lời cuối bất tận này, tôi đã tin, rằng, tình yêu tự thân nó mang tính chính trị cấp tiến

 

 

tình yêu làm ta

 

lạ

| strange | anomalous | foreign | unfamiliar | irregular |warped |from outside | from elsewhere | deviating | other |

| lạ | phi thường | xa lạ | không quen thuộc | bất thường | biến hình | từ bên ngoài | từ đâu đó | lệch | khác |

 

 

tình yêu, mở rộng và đón nhận tổn thương trước nó, làm ta trở thành phần thân thể đâu đây của người lạ này, với chính ta, ta trở nên mới mẻ, thế giới lạ lẫm, mọi thứ trở thành

 

lạ

| lạ people | lạ faces | lạ beings | lạ foreigners | lạ voices | lạ languages | lạ forests | lạ love | lạ fish | lạ grass | lạ birds | lạ feeling |

| người lạ | người lạ mặt | kẻ lạ | kẻ xa lạ | giọng nói lạ | ngôn ngữ lạ lùng | khu rừng lạ | nỗi yêu lạ lùng | loài cá lạ | loài cỏ lạ | bọn chim lạ | nỗi lạ lùng |

 

và để cảm thấu sự công nhận này, rằng ta là kẻ khác, chính là để khởi sự sống một cách con người hơn

 

                        NT: “tôi thường nghĩ về sự thấu nhận như một khả năng đặc biệt trong tình yêu”

bằng việc nói         tôi yêu người                , một cụm từ sến mòn hơn cả trong thơ, tôi cảm thấy nhã thuyên đâm xuyên qua lớp không gian riêng tư, của kẻ ấy, và có thể của cả ta, và trộn nhào, vào trong không gian này, tất cả những điều quý giá mà ta nuôi nấng và bảo bọc cho và trong ta. bằng việc phơi mở thế giới riêng tư đó, nó trở nên không còn chỉ là của riêng kẻ ấy nữa. có những khoảnh khắc của những hành vi dường như xảy ra không chủ thể, như những hình thức chỉ định (ngây thơ) trung tính của ngôn từ. ngôn từ trở thành một cuốn sách tự thuật mà những lằn ranh của tự thuật mở ngỏ cho những tồn tại khác.

 

 

và khi một sinh thể có thể trở thành vô vàn, thời gian cũng có thể thôi miên mơ hồ huyễn hoặc, trong sự mơ hồ về thời của tiếng Việt nói chung, và đặc biệt trong tiếng Việt của nhã thuyên, một sự đùa chơi với thời gian kéo sụp mọi ranh giới của nó.

như với “một giấc mơ đã xảy ra hiện diện rõ ràng” trong người tù, thời gian của giấc mơ, thời gian của ký ức, thời gian của bây giờ, tất cả

 

xoắn xuýt

vì-trong-khi-kể-lại-câu-chuyện-của-một-giấc-mơ-ta-kể-cái-quá-khứ-đó-trong-hiện-tại-bởi-vì-khi-kể-ta-thăm-lại-thời-gian-và-ta-ở-đó-như-trong-khi-nhớ-lại-một-giấc-mơ-và-trong-giấc-mơ-của-những-gì-sẽ-hay-không-hay-đã-hay-không-phải-xảy-ra-sự-kể-lại-của-ta-như-là-mọi-thứ-đang-xảy-ra-giờ-đây-ta-là-hiện-tại-ở-đó-trong-quá-khứ-tương-lai

 

 

đang                rồi

             vừa                      lại                           sẽ

             đã

sắp                                         và không bao giờ

                    luôn luôn                         trở lại                    sau đó

                              giờ                              và                               giờ

N.T: “tương lai, quá khứ, hiện tại – những từ ngữ to xác”

                                    ( dấu vết của khoảng trống)

 

 

sự bất an của thời gian, bởi nỗi lo âu mà sự bất an này có chiều hướng sản sinh, trong những trang sách này, cơ hồ mang lại nhiều yên ủi hơn. và ấm lòng sao, khi không quá khứ nào trôi qua, và mọi thứ đang dần tới đã ở đây lúc này rồi

 

nhưng một bản dịch chính xác là thế nào?

 

và những từ ngữ đang hóa bê tông trong mực của những trang giấy cuối cùng phải mang hình hài của nó?

 

 

“tôi biết những điều không trở lại nhưng không biết điều sẽ đến”

                                                                        (dấu vết của khoảng trống)

  • i know what isn’t here that once was but not what isn’t here that never was

[tôi biết điều không ở đây đã từng ở đây nhưng không biết điều không ở đây chưa từng ở đây]

  • i know the present by looking at the past but i don’t know the present by

looking at the future

[tôi biết cái hiện tại này bằng việc nhìn vào quá khứ nhưng tôi không biết cái hiện tại này bằng việc nhìn vào tương lai]

  • i know what’s not here that used to be but not what will be here

[tôi biết điều không ở đây đã từng là nhưng không biết điều sẽ ở đây]

  • i know what has not come back but not what is to come

[tôi biết điều không trở lại nhưng không biết điều sẽ đến]

 

 

tác phẩm dịch này là một cuộc trò chuyện, bất tận những cuộc trò chuyện, và thêm nhiều những bất tận nữa cả khi nó đã hoàn tất một đời sống-chết. bởi vì, theo cách nào đó, việc xuất bản một cuốn sách là một tin báo tử cũng như là một sự khởi sinh và là cái gì đó tôi nghĩ tôi phải học từ việc đọc những trang chữ này.

 

một lần, tôi đã gặp một cuốn sách, ôm mang đầy

bóng tối và những đáy thẳm.

=

| ánh sáng | light| luminosity| brightness | a radiant glow |a sheen |a shine | a glimmering |

| ánh sáng | sáng | chói chang | tỏa rạng | chói | luồng sáng | tia sáng | sáng nhợt |

 

(Nhã Thuyên dịch)

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s