…để phóng thích lửa trong những ngón tay tôi…

 

Ghi chú của tác giả:

Đây là phần viết lại bằng tiếng Việt lời bạt của Nhã Thuyên, rút từ tập sách “Poems of Lê Văn Tài, Nguyễn Tôn Hiệt, Phan Quỳnh Trâm”, Nhã Thuyên & Nguyễn Hưng Quốc biên tập, Vagabond Press, Australia, 2015. Nhan đề bài viết này lấy từ một bài thơ của Lê Văn Tài. Các tác phẩm thơ Nguyễn Tôn Hiệt được trích dẫn theo bản tiếng Việt của các bài thơ đăng trên Tiền Vệ, còn lại, tác giả bài viết tạm dịch các câu thơ được trích dẫn của Phan Quỳnh Trâm và Lê Văn Tài.

Tác giả muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Kaitlin Rees, Phùng Hà Thanh & Michael Brennan vì những trao đổi và đóng góp, chia sẻ quanh bài viết này.

Để phóng thích lửa trong những ngón tay tôi…

 

Tôi hình dung những lối đi đến những bài thơ này, những tác giả này, để thấy thêm những khả năng của (viết) thơ.

Đây một lối đi: tôi biết những nhà thơ này; tiểu sử tác giả có ích đôi khi. Tôi có thể nói: một mặt, họ là thuyền nhân, họ mang phận lưu vong, họ là di dân, họ là người Úc gốc Việt; mặt khác, họ chọn lưu vong, họ chọn là những di dân, họ chọn tiếp tục viết tiếng mẹ, họ chọn viết trong một ngôn ngữ khác, họ chọn được dịch, họ chọn là cái bất khả dịch, họ chọn là những tác giả xuyên quốc gia, nhìn từ khía cạnh ngôn ngữ và không gian sống. Những ngôn ngữ này sẽ mang chở trọng lượng đời sống và cái chết của họ.

Nếu có một thân phận cho ta sống, ta có thể chọn sống thân phận mà ta chọn.

Ta có thể ôm mang cái không thể ôm mang này.

Đây một lối đi khác: tôi không biết gì về những nhà thơ này; tiểu sử đâu có nghĩa gì, chỉ các bài thơ và các nhà thơ trong các bài thơ ấy tạo nghĩa. Tôi có thể nói: các bài thơ này tự lên tiếng cho mình, không phải cho những tác giả nằm ngoài không gian của cuốn sách, các bài thơ ôm mang thân phận riêng của mình. Các bài thơ này chẳng thể tiết lộ gì ngoài ngôn ngữ của riêng chúng, cuộc sống và cái chết của riêng chúng trong những ngôn ngữ này.

Nếu có một thân phận cho mỗi bài thơ của cuốn sách này, bài thơ không thể có lựa chọn nào ngoài việc là, như thế.

Không thể tránh ôm mang cái không thể ôm mang này.

*

Lê Văn Tài

Một nhà thơ, một họa sĩ, một con người lưu vong khỏi quê nhà, trái tim bồn chồn mãi kiếm tìm một mảnh đất để thuộc về và đính mình vào đó, dù chỉ như một hạt bụi trong vũ trụ này, dù chỉ là ảo ảnh của thuộc về và những khả thể của sự không tan rã quá sớm trong hành trình mơ mộng thành một con người.

Những ký ức thương tổn chuyển hóa thành những trải nghiệm thơ ca, qua chữ và hình, thành thơ và hoạ. Hay ngược lại, những trải nghiệm thơ ca hiện thân những ký ức thương tổn. Tiến trình tưởng tượng những trải nghiệm cá nhân, cùng lúc thương tổn và thơ mộng, có thể xem không phải chỉ như một liệu pháp lời/hình cá nhân bằng việc kéo giãn quá khứ, nối dài thời gian và không gian của một quê ruột đã mất – để ký ức trở nên dẻo dai hơn và an toàn hơn trong không gian của những ảo ảnh, mà còn là một cách thức thành-nhà cái hiện tại, níu gần thời gian và không gian của quê nuôi – để hiện tại khả thể hơn và được cưu mang trong vòng tay của sáng tạo.

Thơ Lê Văn Tài với tôi tiết lộ một cách sống đẹp ở giữa tất cả những ranh giới: của chữ và hình, của cái hữu hình và cái hữu âm, đây và đó, quá khứ và hiện tại, cái khả thể và cái bất khả. Nhà thơ bày ra một thế giới làm tôi cảm thấm từng hơi thở của hiện hữu, thông qua một cơ chế tưởng tượng siêu thực đẹp đẽ và nhịp điệu khơi cảm quyến luyến của ngôn từ và hình ảnh. Cái không thể nói được có thể tìm thấy chốn tạm nương trong thơ. Có thể đọc các bài thơ này bằng mắt, trong im lặng, và để ký ức của sự đọc đổ tràn vào tim óc ta, và để (ký ức của) những bài thơ này được cất giữ đâu đó, trong sự thường hằng của cái vô thường.

“We’ll come back to ourselves, to migrate our human Spirits,

Our lips will be lengthened to a stream of musical instruments.

So, the sun of the day time on stretched canvas will be stopped,

from wandering.”

(The Sun Stopped Wandering on Stretched Canvas)

Ta sẽ trở lại với chính mình, di cư tới cõi Những Linh Hồn con người,

Môi ta ngân dài thành dòng chảy nhạc cụ.

Bởi thế, mặt trời của ban ngày trên tấm toan trải rộng sẽ ngừng,

những chu du.

(Mặt trời ngừng chu du trên tấm toan mở rộng)

Ham muốn trú lại trong sắc riêng, trong cái tôi thực thụ, trong chủ thể tính của ta thường dẫn ta đến nẻo kiếm tìm vô định. “Một hạt cây bén rễ nơi nào?” – Câu hỏi mang chở nỗi ám ảnh nhân sinh này không có câu trả lời. Ừ, nơi nào đó. Ừ, chẳng nơi nào cả. Trong những giấc ta mơ. Trong sự mênh mông của những bầu trời và những đại dương. Trong sự mênh mông của một hơi thở. Trong nỗi im lặng của ta. Tất cả những gì ta có thể làm là thở, và không gì ngoài nhịp thở.

Tuy nhiên, cả khi ta chọn im lặng, những tiếng dội lại của hữu thể ta vẫn đâu đó, vang lại từ những hang động nguyên thủy, run rẩy trong bụi cát đã phủ dầy những bức họa hàng thế kỷ. Ta không thể nào giản đơn chối từ hiện hữu của mình, dẫu chỉ là một hạt bụi, nếu ta đã nỗ lực:

Make a live this world

And make it alive in art,

Making

(A Man Lonely, Dumb and Free (1)

Làm sống thế giới này

Và làm nó sống trong nghệ thuật

Làm ra

(Một con người cô đơn, khờ khạo, tự do (1))

Sáng tạo lại thế giới này, thế giới riêng mình, là một cách đặt chân tới mảnh đất nào đó, để ‘làm- thành- nhà” chính không gian riêng của mình, để bước vào trái tim mình, bất kể nơi nào ta sống.

“Tell me… tell me… please

Anywhere,

Anywhere… a place

Which way: to enter a strange garden

Or into your heart

Opening

Let the seed take root, and me.”

(Where can a seed take root?)

“Nói cùng tôi… nói cùng tôi… xin hãy nói

Nơi nào,

Nơi nào… một nơi nào

Lối nào: để bước vào một khu vườn lạ

Hay vào trái tim người

Mở ra

Cho hạt cây này bén rễ, và tôi”

( Một hạt cây bén rễ nơi nào?)

Tôi biết những bài thơ này có thể tự bén rễ, trong mảnh đất của tình yêu và sáng tạo, và bởi vậy, sẽ bén rễ, cả thi sĩ ấy.

*

Nguyễn Tôn Hiệt

Trong những bài thơ này, Nguyễn Tôn Hiệt biểu thị những ưu tư, thậm chí những ám ảnh, với chính trị và thi ca, hay thi ca như một dạng phản ứng và tham dự có tính chính trị.

Viết thơ như sự phản ứng với các sự kiện đã và đang xảy ra trên quê hương mình, Nguyễn Tôn Hiệt kể tôi nghe câu chuyện của một kẻ lưu vong không bao giờ rời khỏi quê nhà, Việt Nam, dù quê nhà ấy có thể chỉ còn là một hình ảnh tạo dựng, một diễn ngôn tưởng tượng, một chủ đề diễn giải, một vùng địa lý được khung khổ, một ký ức được giữ lại và khơi dậy, một cái biết được biết chỉ từ xa. Đây, một cơ thể viết trong nỗi giận dữ và cơn đói, trong nỗi khao khát không-hoài cảm được thấy một quê hương sáng sủa hơn cái quê hương dường như đang bị hủy hoại bởi những cơn bão táp lịch sử. Có lẽ cần thiết làm rõ ở đây, trong những bài thơ của Nguyễn Tôn Hiệt, những cơn bão táp lịch sử kia không đến từ hư không trừu tượng mà hữu hình gây ra bởi chính những xung đột phức tạp của các quyền lực thể chế ở đất nước này, bởi sự trơ nín của dân chúng, bởi những người lãnh đạo u tối và nhiều những lý do cụ thể khác. Ở một điểm nào đó, những bài thơ này trở nên ấn tượng, đáng nhớ với tính chất phê phán mạnh mẽ những hiện thực khác nhau của đất nước với nỗ lực nói ra sự thật.

Việt Nam là gì và người Việt Nam được biểu hiện ra sao trong những bài thơ này? Việt Nam (không) như thế. Không, nói sự thật, có thể không chỉ là một tham vọng, mà còn là một cứu rỗi cá nhân, một hi vọng vô vọng cho một nơi chốn tốt đẹp hơn. Bởi thế, nhà thơ trong những bài thơ này phải đối mặt với những xung đột, những cuộc chiến: nhu cầu nói sự thật và ý thức về sự bất khả của việc nói sự thật, viết như phản ứng và tham dự và những cản trở của việc tham dự từ xa. Thơ trở thành một kẻ chứng của những sự kiện lịch sử, nhưng có thể cũng sẽ bị đánh bật bởi chính nỗ lực làm chứng ấy.

Bài thơ dài, một đối thoại dài/một cuộc thẩm vấn có tính chất tự thuật nhan đề “Chỗ nào khô thì ngủ qua đêm” có thể được đọc không chỉ như một cuộc tự thẩm vấn, một điều tra về một lịch sử của một cá nhân, mà còn là về một lịch sử của một quốc gia, một đất nước, một miền đất, một dân tộc. Tìm kiếm sự thật cuộc đời riêng có nghĩa là chấp nhận sự thật của một đời sống vô bằng cứ. Bài thơ trở thành, vừa là một giễu nhại cho chính nghịch cảnh riêng của thi sĩ vừa là một biểu thuật về một lịch sử (phi) hư cấu của Việt Nam. Không ai có thể được-bị ngoại trừ, không ai có thể trốn khỏi những vòng vây liên đới, không ai có thể thoát khỏi chính nỗi không nhà của mình; và những chi tiết tiểu sử làm đầy những giấy tờ chính thức vốn là bằng cứ của một tồn tại, của một cá nhân hay một tập thể rút cục chỉ là những hư cấu được viết và tẩy xóa và viết lại và lại tẩy xóa, hết lần này tới lần khác bởi những sự kiện bão tố của lịch sử.

Nguyễn Tôn Hiệt dành một nỗ lực lớn để giải huyền thoại một đất nước – Việt Nam, đặc biệt là mặt lịch sử và truyền thống dường như bị huyền thoại hóa của nó; nỗ lực này thường đi cùng với những kĩ thuật thơ riêng biệt: những giễu nhại, siêu hư cấu, những tự sự hỗn loạn và nhiều kĩ thuật khác. Viết trở thành một hành vi phá hủy mang tính chất phản biện huyền thoại về những sự thật nằm trong những tín điều đã quá hạn và những tuyên truyền gây hại, cùng lúc, là hành vi phơi bày một phía khác của sự thật, có thể là một phía tối hơn, phía không dễ được cộng đồng này chấp nhận. Các kĩ thuật viết cũng trở thành một công cu, một chiến lươc thơ ca của hành động đó.Một vài thi phẩm ở đây có thể xem là những bài thơ – hành động, đòi hỏi được đọc to lên.

Nhưng người ta cũng phải giải huyền thoại cái huyền thoại về chính thơ ca: thơ không sở hữu bất cứ một quyền lực nào như những nhà cách mạng tiên phong. Nhiều nhất, nó chỉ có thể bày ra đôi khả năng hơn là nói to lên những khẳng quyết. Bởi vì thế giới không dễ gom vào những cặp đôi gọn ghẽ, rõ ràng của cái đúng và cái sai. Bởi vì thế giới luôn thay đổi. Bởi vì luôn có, ở đó, cái ‘khoảng lơ lửng’, để gợi nhắc một bài thơ của Nguyễn Tôn Hiệt, và những khoảng lửng này có thể trở thành những bài thơ không thôi đi tìm một sự thật nào đó và không bao giờ chạm tới nó.

Bởi thế, không phải dễ dàng cư xử với tình huống mà Nguyễn Tôn Hiệt, như một nhà thơ, không phải chỉ như một công dân của một đất nước đã mất của y, đã nhận ra và hiện thực hóa trong một bài thơ đẹp có nhan đề: “Thơ: cái gì lơ lửng.” Bài thơ này là một cách hiểu và hiểu lại bản chất của thơ ca. Tôi thấy ở đó: viết đôi khi như nhu cầu nôn, nhu cầu “phun một bãi nước miếng từ miệng tôi thẳng xuống trang giấy”, nhu cầu thấy những bãi nước miếng “bay ra khỏi miệng tôi”, nhu cầu của việc “viết tôi thẳng xuống trang giấy” và ý thức về ảo ảnh của hành động viết đó. Một khía cạnh quan trọng của viết thơ có thể được tiết lộ ở đây: đó là cái gì “giữa tôi và trang giấy”, là “cái lơ lửng” nơi thơ ca sinh thành theo cách mà nhà thơ vẫn phải viết xuống và không thể chỉ đơn giản sao chép lại “bằng chữ trên trang giấy”, bởi vì một khoảnh khắc lơ lửng luôn luôn thay đổi như ánh sáng và cần thiết chuyển hóa thành các chữ, trong những vật thể hữu hình, để cái vô hình có thể được thấy, để sự mong manh có thể kéo dài, để sự thoáng qua có thể được giữ lại. Nỗ lực tái hiện trong thơ dường như bị đánh bại bởi chính bản tính phi-tái hiện của của các ngôn ngữ thi ca, nhưng vì thế, nó thực sự tồn tại.

Phan Quỳnh Trâm

Với tôi, dường như  Phan Quỳnh Trâm đang sống trong một thế giới của những rối loạn và lo âu. Sống thế nào, (không) làm thơ thế nào, hay làm thế nào chỉ để ở đây trong đời sống này, những câu hỏi này dường như không bao giờ ngừng vò rối tim óc cô. Cật vấn về “tồn tại và sở hữu”, như nhan đề một bài thơ của cô, dường như chỉ dẫn ta tới nỗi hi vọng vô vọng cho một câu trả lời đúng. Hữu thể này gắng gỏi phơi mở tồn tại của nó, sở hữu của nó, “đây là đời tôi”, và nhận thức về sự rối loạn của nó, “tôi không biết làm thế nào sống nó.” Hữu thể này muốn viết thơ, và có thể nghe thấy nhịp điệu của thơ, nhưng cũng đồng thời không biết “làm thế nào làm đầy câu với chữ.” Hữu thể này muốn trôi chảy theo nhịp điệu của trái tim và giọng nói, nhưng đồng thời không tin sẽ tới được nơi nào tốt đẹp hơn tồn tại này, hơn khoảnh khắc này, bởi vì cái-tất-cả và cái-không-gì, như niềm vui và nỗi đau, đều “không thể ôm mang.”

Những bài thơ của Phan Quỳnh Trâm sở hữu một phẩm chất lý tính mạnh mẽ. Tôi luôn nghe thấy thật nhiều câu hỏi và những phân tích duy lý, tôi có thể thấy thật nhiều “nhưng” “nhưng” đến từ một khối óc băn khoăn không ngừng hơn là những “và” “và” của một con người chỉ hân hưởng sống đời như nó là. Ở đây ta gặp sự khó nhọc của hiện sinh, cái không thể ôm mang của tồn tại này, khi khối óc hoạt động quá chừng căng thẳng.

Một cách hiểu cách thức văn chương của Phan Quỳnh Trâm là cô viết thơ về những bài thơ. Những bài thơ tiết lộ con người tác giả – một người đọc sâu sắc bên trong một thi sĩ lo âu. Nhà thơ này biết rõ cái nỗ lực vô vọng định nghĩa “thơ là gì” và vẫn, không ngừng tra vấn về điều đó. Tất cả các định nghĩa có thể tự hủy. Và theo một cách nào đó, các định nghĩa chỉ là những (bất) khả thể của việc (không) định nghĩa. Các nhà thơ có thể mãi mắc kẹt trong mạng lưới hỗn loạn của những (bất)khả thể này.

Chọn lựa một ngôn ngữ chỉ có thể trở thành vấn đề của sáng tạo khi nó là cái gì cá nhân một cách thật thiết yếu, và không ai có thể quyết định ngoài ta, tác giả. Phan Quỳnh Trâm dường như muốn cư trú an toàn trong ngôn ngữ, nhưng cô cũng ý thức về sự tạm bợ của nó, sự mong manh phù thế của nó, bản chất dễ thương tổn của nó và cô nhận thức về chính mình như một hữu thể bật rễ, kẻ dù đọc hàng nghìn bài thơ vẫn không thể tìm một bài thơ nào lần dấu xuyên suốt hành trình của mình, kẻ dù viết hàng nghìn bài thơ vẫn không thể biết bài thơ trở thành gì và đến từ đâu. Từ ngữ có thể chỉ là ký ức của từ ngữ. Tình yêu có thể chỉ là ký ức của tình yêu. Tôi không biết nó có thể tự đủ, với tính chất mong manh thoáng qua của nó, trong khi cuộc đời ta sống dường như quá dài, và quá khó.

Phan Quỳnh Trâm đang khởi sự một con đường, hay mãi mãi trên đường, tôi không biết. Nhưng cô bày cho tôi thấy một vài khả thể của việc ứng xử với các ngôn ngữ. Hành vi đọc và viết, và mỗi lúc một cam kết hơn trong việc đọc và viết có thể được hiểu như một tiến trình tìm biết về chính cái trạng thái trên-đường đó, để hiểu (lại) cách ta sống, những điều ta chọn với một ý thức sâu về sự bất khả của việc trở lại điểm khởi đầu. Tất cả những gì ta có thể làm chỉ là hiện hữu, và ở đó, hiện hữu.

*

Cuối cùng, ta có thể mang cái không thể ôm mang. Ta không thể tránh ôm mang cái không thể ôm mang. Ta có thể sống sót. Ta tiếp tục sống. Ít nhất trong thơ ca. Trong các ngôn ngữ.

Nhã Thuyên

Sydney & Hanoi, 2015

Bản tiếng Anh:

 https://junglepoetry.wordpress.com/2015/09/05/to-release-the-fire-inside-my-fingers/

Mua sách:

Poems of Lê Văn Tài, Nguyễn Tôn Hiệt & Phan Quỳnh Trâm

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s