33 moons

[for yesterday]
i guess i still should say happy birthday to the self- congrats, you’re surviving 33 years officially! no more struggle of keeping or not the wild hair. just h.air.

***

quietly quietly i go.

thanks to Yên San for the photo &

IMG_20190227_203418

& the moon got fever [Fever isn’t such a new thing/Fever started long time ago]
chapbooks

I wrote the moon essay around my birth[day] anxiety in 2018 and now it’s here, sharing the moonly fever with Kaitlin, with other chapbooks in the same series “translating feminism” [as i am never a feminist] by Tilted Axis Press.  You can get a copy here.  

[We wish it could be bilingual, but the chapbook was getting too anxiously fat].

It’s time for all human beings to be healthier and to be transformed [whatever form you feel right].

An image of “independent woman”: I always feel a need for myself to be fulfilled by the others, as me a feminine being never can be enough by herself, as me a feminine being never thinks of herself as ‘feminine’ if not touching the masculine beings, as me a being never wants to even be a self in this life. i want to become a selfless-being, to bear all and to be in all.

From Kaitlin’s afterwords:

Enduring women, they who can bear all, the mythologized resilient woman, here gives an account of themself, perhaps as an attempt to be released from the burden of being able to bear. An “i” is clearly visible in these pages and is also self-shielding [in brackets], self-negating as crossed out.

What does it mean that the writer crosses themselves out of their account? What is feminist about a conscious self-isolation and self-erasure? What is feminist about the subjects of these poems? Who are they for? For whom all these stories? I am asking you.

Người nữ dẻo dai, kẻ có thể ôm mang cơ hồ tất thảy, người nữ bền bỉ đàn hồi, lúc này, kể một câu chuyện về mình, chừng chỉ để rục rịch buông mình khỏi nỗi nặng gánh của việc có thể ôm mang. Và “tôi” hiển hiện trong những trang viết này, kẻ tự che mình [trong ngoặc vuông], kẻ tự tẩy mình bằng gạch xoá.  

Một kẻ viết gạch xoá chính những tự sự của mình là thế nào? Một sự tự liều mình cô quạnh và tự xoá bỏ đầy ý thức có thể là feminist | nữ quyền như thế nào? Chủ đề của những bài thơ này feminist | nữ quyền như thế nào? Dành cho ai? Tất cả những câu chuyện này cho ai? Tôi đang hỏi người.

***

Over the first coffee, before knowing anything at all about the other, Nhã Thuyên and I spoke about the word “feminism” and they said how the discourses, the waves, were not simply transplantable from one context to another. I learn/ have learned/ am learning to be wary of all exports from what I must call my country, my hemisphere, my hemisphere’s claim to (women’s) progress, (women’s) equality, (women’s) rights. Yes, “feminism” too can be part of an imperial project, if another’s suffering is comprehended too conveniently, if a solution is offered in the sure language of authority, if “here” is the square peg and “there” the round hole and if a forced penetration. I hesitate to speak of the feminine as something that could possibly end in an “ism”.

 

Yes, and: there is also something shared. We can share accounts of ourselves and by this, ask to be recognized. Not necessarily as “us”, but as you and me.

 

“Feminism” does and does not translate according to the terms used to define the word, the theories, the actions. How the Vietnamese language defines the word: nữ quyền luận, literally the theory of women’s rights/power. Nhã Thuyên once made the suggested revision of nữ tính luận, the theory of femininity, and recently opens the term through another ongoing retranslation: feminism = 陰波力 = âm ba lực = yin reverberation force.

Qua tách cà phê đầu tiên, trước khi biết thêm bất cứ điều gì về nhau, Nhã Thuyên và tôi nói về từ “feminism” và hắn nói, những diễn ngôn này, những làn sóng này, không phải đơn thuần có thể bứng từ bối cảnh này đặt qua bối cảnh khác. Tôi đã/đang/vẫn học để thận trọng về tất cả những sản phẩm xuất khẩu từ những gì tôi phải gọi là đất nước tôi, phía bán cầu tôi, sự khẳng quyết từ phía bán cầu tôi với tiến bộ (của người nữ), sự bình đẳng (của người nữ), quyền (của người nữ). Đúng thế, “feminism” cũng có thể là một phần của một dự án bá quyền, nếu chịu đựng của kẻ khác được hiểu quá ư tiện lợi dễ dàng, nếu giải pháp được đề xuất trong ngôn ngữ cứng nhắc của thẩm quyền, nếu “ở đây” nồi tròn và “ở kia” vung méo và nếu chỉ là sự xuyên nhập cưỡng bức. Tôi ngần ngại phát ngôn về nữ như là điều gì đó có thể khép chặt bằng một “chủ nghĩa”.

 

Đúng thế, và: có những điều chung chia. Ta có thể chung chia những tự sự về mình và bằng hành động này, đề nghị được nhận ra. Không nhất thiết nhận ra “ta” một khối, mà nhận ra tôi và người.

 

“Feminism” dịch và không dịch theo những thuật ngữ quen dùng để xác định nghĩa của từ này, của những luận thuyết, những hành động này. Ngôn ngữ tiếng Việt dịch thành nữ quyền luận, luận thuyết về quyền (hành)/(lực) của người nữ. Nhã Thuyên từng đề xuất một suy xét lại về nữ tính luận, luận thuyết về tính nữ, và gần đây mở nghĩa thuật ngữ này bằng một hướng dịch lại: feminism = 陰波力 = âm ba lực = âm lực ba động.

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s