+++& Trần Vũ

***

[Coi như ] trả xong bản dịch Captain Courageous (phù), trả xong vài việc dịch và những việc khác, thèm cảm giác một-nhiều ngày dài trong sự vắng lặng của thư viện hay một góc quán cafe, ngồi không và nghĩ, đọc với sổ tay và sách và bút, và nguệch ngoạc vẽ. Mọi thứ cần nhịp nhàng và cân bằng trở lại, cần sửa sang và sửa soạn để viết và đọc và nguệch ngoạc trở lại, nếu tôi có thể kết nối lại – một lần nữa – với xung quanh. Tôi đã luôn “ảo tưởng sức mạnh” (sic, Yên San bình luận) có thể (cùng những người khác) làm nhiều thứ cho nhiều người khác nữa, cho một hình ảnh.ảo tưởng về cộng đồng mà tôi biết mình hằng mang theo và nghĩ về, một cộng đồng những người viết [nhất là tiếng Việt] đây-kia, nhưng tôi biết đến lúc tôi cần ngồi lại, để những ý tưởng không kéo đi quá xa trước cả những bước chân trải nghiệm chúng, để những ý tưởng không thiêu đốt tôi  trong những cơn cuồng làm-mọi-thứ-có-thể.
***
Tôi tra vấn những ranh giới, chập choạng trên cheo neo ranh giới, dặm khách-dặm nhà. Ngoài và trong. Ngoại tính, nội tâm. Người ngoài, người nhà, người bạn. Tôi biết mình sẽ phải đi đến cùng.tàn [đêm] những câu hỏi của cá nhân mình, không khác được, không thể lựa chọn, không tự cản được mình. Tôi biết những câu hỏi cho năm-mười năm tiếp theo.

Nhưng tôi biết mọi thứ cần thời gian và nhịp điệu.

***
Mái nhà xe thư viện phủ đầy lá sấu vàng. Cũng chính ở sân thư viện mười hai năm trước, tôi ngồi nghĩ về việc rời khỏi Hà Nội, và tôi đã ở lại và lúc nào cũng bồn chồn ra đi và lúc nào cũng bồn chồn ở lại. Một ở lại nhiều hạnh ngộ và luôn ngổn ngang trăm mối bên lòng. Một ở lại cần đến lúc được bình yên, lại tự dành cho mình 30% của ngày [ít nhất] để thuần túy đọc và nghĩ.
***
Mọi thứ cần được bày ra và/đón/nhận những sự đọc khác nhau. Nhưng phải được bày ra cho những sự đọc đến.

***

Chờ đợi, và như không còn chờ đợi gì thêm nữa cả. Mọi thứ sẽ tự đủ.

***

Nhân đọc [chưa kĩ] đôi bài viết trên ZZZ reviews  về Trần Vũ, tìm lại một tiểu luận cũ, còn để ở dạng bản thảo về Trần Vũ, hình như mới chỉ gửi cho một đôi bạn sinh viên lớp mình dạy. Tôi viết, khi dạy chuyên đề Văn học của người Việt lưu vong/ di dân ở khoa Văn Sư Phạm (2013), và dành một buổi cho các bạn thảo luận về tự sự lịch sử của Trần Vũ. Sau đó/lúc này, tôi không đọc [được] Trần Vũ nữa, dù đã thấy cuốn Phép tính của một nho sĩ (Nhã Nam, 2019). 6 năm trước, tôi còn có thể nhìn câu chuyện cơ thể (nữ) ở một khoảng cách khác, một cái gì trong mà như thể ngoài cơ thể mình. Post lại đây để một lúc nào đó sẽ đọc lại, và biết đâu sẽ đọc lại/tiếp Trần Vũ, nhưng hẳn nhiên, sẽ là một đọc khác. Và hẳn nhiên, một viết khác.

Tôi đã xong [lối viết] theo đòi học thuật trường quy.

***

Sự trưng dụng cơ thể nữ: tiếng than khóc của lịch sử trong truyện ngắn Trần Vũ

 

Nhã Thuyên

 

Tóm tắt: Mối quan tâm của bài viết này là sự trưng dụng cơ thể nữ trong truyện ngắn Trần Vũ, được phân tích trên ba tác phẩm Mùa mưa gai sắc, Gia phả, Bên trong pháo đài. Trong những truyện ngắn này, sự trưng dụng cơ thể nữ nổi lên ở hai khía cạnh: những áp chế tình dục bạo lực lên cơ thể nữ và cơ chế biểu tượng hoá cơ thể nữ như một ý niệm về quốc gia, dòng tộc. Bài viết sẽ phân tích, Trần Vũ, khi hướng tới mối quan tâm về thân phận con người trong lịch sử – ở đây là thân phận những người nữ thực hiện “các chức năng cộng đồng”, ở ngay cái tưởng như gắn với đời sống cá nhân nhất là tình dục – đã buộc ta phải lắng nghe những “tiếng than khóc” của quá khứ, của lịch sử, để sử dụng lại ý tưởng của Cathy Caruth bàn về chấn thương (Cathy Caruth, 1996). Theo nghĩa nào đó, một trong những hiệu ứng rõ rệt nhất của việc trưng dụng cơ thể nữ này là sự biểu hiện một kiểu lịch sử của chấn thương, trong đó, bản thân tác phẩm văn chương dường như muốn trở thành lời chứng. Bài viết cũng sẽ đặt câu hỏi về ý nghĩa và tính chất khuôn sáo trong cách thức Trần Vũ sử dụng hình tượng người nữ – nạn nhân hoá trong những truyện ngắn này.

Sự viết về chấn thương và viết trong những chấn thương này không xa lạ với những mối quan tâm bức thiết về sự bình yên của con người và lịch sử, trong một thế giới con người đã/đang trải qua những cơn sang chấn khủng khiếp của chiến tranh, những thảm hoạ tự nhiên, của những quá khứ khuất lấp (đòi) được khai quật. Những câu hỏi đặt ra từ việc tìm hiểu các văn bản văn chương này, vì thế, không tách rời với việc tìm kiếm những khả thể của văn chương trong nỗ lực cất lên những tiếng nói khẩn thiết về con người, lịch sử, và về chính bản thân văn chương.

Từ khoá: chấn thương, tự sự, cơ thể nữ, lịch sử.

 

 

 

Tôi luôn lưỡng lự khi đứng trước tác phẩm Trần Vũ, hẳn cảm giác này của tôi sẽ được chia sẻ: vừa dè chừng, tự ngăn trở vừa bị cám dỗ, muốn lao vào không khí bão táp của những trang viết căng thẳng, những trang viết rậm rịt ý tưởng, ngôn ngữ bạo liệt, gây hấn và luôn luôn hiện diện “những chủ đề cấm kỵ” như bạo lực, tình dục, viết (lại) lịch sử, chiến tranh…; vừa thấy những mời gọi đầy kích thích vừa hiểu rằng thật không dễ dàng đi vào tâm bão. Vì thế, ở bài viết nhỏ này, tôi sẽ không mô tả/bàn luận thêm những điểm đã gây tranh luận từ truyện ngắn Trần Vũ như một tác giả nổi bật của văn chương tiếng Việt lưu vong mà chọn một điểm tiếp xúc nhỏ: tôi quan tâm tới việc Trần Vũ khai thác (hình tượng) người nữ như thế nào. Ở đây, tôi sẽ phân tích một vài biểu hiện của sự trưng dụng cơ thể nữ trên ba tác phẩm Mùa mưa gai sắc, Gia phả, Bên trong pháo đài, mà theo tôi, nổi lên ở hai khía cạnh: “sự hành hạ” cơ thể nữ bằng áp chế tình dục bạo lực và cơ chế biểu tượng hoá người nữ như một ý niệm về quốc gia, dòng tộc. Bài viết sẽ phân tích Trần Vũ, khi hướng tới mối quan tâm về thân phận con người trong những trạng huống lịch sử bạo tàn – đặc biệt thân phận người nữ bị đeo mang “các chức năng cộng đồng”, ở ngay cái tưởng như gắn với đời sống cá nhân nhất là tình dục – đã buộc ta phải lắng nghe những “tiếng than khóc” của quá khứ, của lịch sử, để sử dụng lại ý tưởng của Cathy Caruth bàn về chấn thương. Một trong những hiệu ứng rõ rệt nhất của việc trưng dụng cơ thể nữ này, như tôi thấy, là sự biểu hiện một kiểu lịch sử của chấn thương, một kiểu lịch sử gây sốc, sự tiết lộ hiện trạng xã hội bạo liệt trong đó, bản thân tác phẩm văn chương dường như muốn trở thành lời chứng. Từ đó, có một “lịch sử khác” được tạo ra, không phải chỉ nhằm phủ nhận một lịch sử này và đòi công nhận một tồn tại kia, mà là một đề nghị nhìn sâu vào lịch sử của con người. Đó có thể chính là một cách cho thấy khả năng viết về lịch sử của văn chương, nhất là các tự sự, mà Trần Vũ đã xới lên. Ngoài ra, tôi cũng muốn gợi ra một câu hỏi nhỏ về tính chất khuôn sáo trong cách thức Trần Vũ viết về người nữ trong những truyện ngắn này.

Xin được nói rõ rằng, trong khi được gợi hứng từ lý thuyết về chấn thương và phê bình chấn thương, bài viết này không phải là một bài áp dụng lý thuyết hay đặt mục tiêu bàn luận về các thuật ngữ có tính chất lý thuyết. Tôi muốn dùng từ chấn thương (trauma) với cách hiểu phổ biến theo chỉ dẫn từ Cathy Caruth, một trong những học giả có mối quan tâm sớm sủa về vấn đề này trong quan điểm kết hợp với phân tâm học: “Trong định nghĩa phổ biến nhất của nó, chấn thương miêu tả một trải nghiệm nặng nề, quá sức chịu đựng những sự kiện thảm hoạ hoặc đột ngột, mà phản ứng trước sự kiện thường xảy ra trễ tràng sau đó, cùng sự xuất hiện của ảo giác và những hiện tượng quấy đảo khác lặp đi lặp lại, không thể điều khiển. Trải nghiệm của người lính đối mặt với cái chết tập thể và đột ngột quanh anh ta, chẳng hạn, những người chịu đựng cảnh tượng này trong một tình trạng tê liệt, chỉ sống lại sau đó trong những cơn ác mộng lặp đi lặp lại, là một hình ảnh trung tâm và phổ biến của chấn thương trong thế kỉ của chúng ta.”

Khẳng định tiềm năng trở thành “lời chứng” cho một lịch sử khác của văn chương không phải như một bảo đảm về giá trị văn chương của tác phẩm Trần Vũ, mà điểm tôi muốn tranh luận ở đây là cái gọi là “mục đích” khai thác chủ đề lịch sử trong sáng tác của anh. Ở thời điểm Trần Vũ xuất hiện, Trần Vũ đã được xem như một kẻ nổi loạn và phá bĩnh lịch sử bằng văn chương với cảm hứng phủ nhận mãnh liệt hiện trạng lịch sử chính thống, lịch sử dưới ánh sáng, lịch sử kẻ chiến thắng thông qua tự do hư cấu và không ngại tấn công, “bịa đặt lịch sử”, với các nhân vật, sự kiện nổi tiếng. Chẳng hạn, bài viết kĩ lưỡng của Thuỵ Khuê cho tôi hình dung Trần Vũ chủ yếu trong những cặp quan hệ phản tư, lật tẩy, từ chối, đối kháng: Trần Vũ “bịa” quyết liệt, viết truyện “giả sử” để “diễn tả một hiện thực không giả: sự bạo tàn trong chiến tranh, trong các nhân vật lịch sử, trong thiên nhiên, vạn vật và con người”, “dùng lịch sử làm tay sai cho những điều muốn nói”dùng lịch sử để đập phá ảo tưởng thực tại”, “Do đó, có sự từ chối lịch sử, từ chối đạo đức rút ra từ lịch sử, để viết nên “giả sử”, bộ mặt trái của sử thật và sự thật.” Khi cho rằng Trần Vũ viết “giả sử”, theo tôi hiểu, Thuỵ Khuê có ý quy chiếu tới một lịch sử “thật”, một thứ lịch sử chính thống, được thừa nhận rộng rãi nào đó mà Trần Vũ đối kháng, và ý nghĩa tác phẩm của Trần Vũ nằm trong sự đối kháng này; theo đó, bạo lực, dục tính cũng chỉ là cách vi phạm cấm kỵ hoặc “một cách thức chống trả hoang tưởng”. Việc đọc tác phẩm về lịch sử của Trần Vũ như một sự đối kháng về ý thức hệ, trong khi kích thích sự chú ý tới ý tưởng viết lịch sử táo bạo của Trần Vũ dường như đã đồng thời bó hẹp chính khả năng tiếp cận lịch sử của tác phẩm. Đến nay, khi người sáng tác và cộng đồng diễn giải có thể đồng thuận tương đối về sự tự do hư cấu của nhà văn, không o ép các tự sự lịch sử phải quy chiếu vào lịch sử của nhà sử học, cũng có nghĩa là phạm trù cái thực đã được nới rộng, thì những câu hỏi về sự bịa đặt của văn chương về lịch sử không còn phải đặt ra. Tôi hiểu cách Trần Vũ khẳng định mình không viết truyện lịch sử theo nghĩa anh đã vượt qua sự phân chia lịch sử – văn chương này. Nói khác đi, lịch sử, nằm ngay trong khả thể biểu hiện của văn chương chứ không phải nằm ngoài văn chương. Tôi cho rằng, lịch sử ở đây không nên được nhìn đơn thuần như một thứ “chất liệu”, một phương tiện phủ định hay chống đối, hay một phương tiện để “bịa đặt” để làm nên những truyện “giả sử”. Nó có thể chính là một mục đích “tự thân”. Sự tấn công vào những cấm kỵ có ý nghĩa xa hơn những đối kháng ý thức hệ hay biểu hiện thao tác nghệ thuật phóng túng của nhà văn: ý nghĩa của nó nằm ở nỗ lực mở đường quyết liệt cho sự tự do biểu hiện của văn chương.

(Ở điểm này, có thể nhìn ra một văn cảnh rộng hơn: không quá khó đồng thuận rằng một trong những điểm thu hút nổi bật của văn chương Việt Nam sau Đổi Mới, cả sáng tác lẫn phê bình, tranh luận, chính là sự tấn công vào các chủ đề cấm kỵ. Điều này dẫn tới một cách đọc xem những cái gọi là “cấm kỵ” với văn chương Việt Nam sau Đổi Mới như là biểu hiện năng động của tính chất phá cách, tiền phong của văn chương. Trong khi hoàn toàn không phủ nhận sự kích thích và ý nghĩa gây hấn thú vị của “các vi phạm”, cả sáng tác lẫn phê bình, cá nhân tôi nghĩ rằng cách đọc này tới lúc đang cần được đi qua. Bởi lẽ, trong khi ý nghĩa lớn nhất của sự tiếp cận này là khiến người đọc thức tỉnh về những tiếng nói khác, những tiếng nói ngầm, “vượt rào”, nếu người đọc ở quá lâu trong cách đọc đó có thể vô tình (?) củng cố thêm cho những định kiến đang dần trở nên khuôn sáo về chính những điều “cấm kỵ” đó (như giới hạn của việc khai thác lịch sử, tình dục, định kiến về một không gian văn chương bảo thủ…) và tạo nên những vách ngăn lớn với tiếp nhận, khi mà những nhãn hiệu “kẻ chống đối”, “kẻ lật đổ”… thật dễ bị hiểu lầm cho những mục tiêu ngoài văn chương.)

Người chứng: Chủ thể chấn thương

Truyện Bên trong pháo đài đi theo lời kể của nhân vật Nhật, một trong bốn nữ du kích sống dưới hầm Mười Một, đóng vai một người quan sát, một người chứng câm lặng: “Ðiều kỳ lạ là lớp vỏ bên ngoài của những con người nằm hầm, nếu có vẻ vượt qua được thử thách để sống sót trong một môi sinh khắc nghiệt, thì cái phần bên trong của con người ấy hoàn toàn bị hủy hoại. Tôi chứng kiến đầy đủ, gần như trọn vẹn sự thoái hóa của những du kích bị tước đoạt ánh mặt trời.” Cú sốc đầu tiên gây ra chấn thương nơi tâm hồn Nhật là khoảnh khắc chứng kiến Huệ – vì xung đột chuyện cỏn con với Phấn mà dẫn tới hành động kinh khủng này: “Cái hôm mà mọi người đi khuân đạn bên hầm Mười Chín, chỉ còn hai đứa ở lại trực phiên, tôi bắt gặp Huệ chui rúc trong góc hầm đang mài miểng chai rắc vô bi đông nước uống của Phấn. Ánh mắt Huệ đầy chết chóc và hiểm ác khi Huệ ngẩng lên trông thấy tôi đang đứng nhìn nó. Huệ nhìn tôi đằng đằng sát khí, như thể chỉ cần tôi lên tiếng, làm một cử động nhỏ là nó sẽ giết chết tôi ngay. Tiếng động cà rèn rẹt từ hòn đá mài dao, mải miết không ngừng phát lên nơi bàn tay béo mập của Huệ. Tôi bị ánh mắt thôi miên của đứa con gái bấu chết trân tại chỗ cho đến khi nó làm xong, hoàn tất cái công việc ám hại có chủ đích.” Cái khoảnh khắc chứng kiến sự kiện đó, Nhật hoàn toàn tê liệt, “đứng yên như một cái xác chết”, nhưng kinh nghiệm gây chấn thương kia sống lại trong giấc mơ như một hành hạ không nguôi: “Tôi thường mơ thấy một bắp chân đứt lìa, một cánh tay lênh láng máu và tiếng thét của Phấn the thé vang vang trong giấc mơ. A! Con Nhật, mày đồng lõa!” Câm lặng chứng kiến cái ác của con người, những người được coi là “đồng đội” hiển hiện rõ rành là cú sang chấn đầu tiên của Nhật.

Motif người chứng khá phổ biến trong tác phẩm của Trần Vũ có thể xem như là một thao tác cho phép những lối kể song song, chồng lấp, những chủ thể khác nhau cất lên tiếng nói, về “những lịch sử chưa được thừa nhận”, chưa được biết tới. Trong truyện ngắn muốn bao quát cả chiều dài của tộc Trần, câu chuyện về Trần Thị và Trần Thủ Độ được kể bởi những người chứng bé nhỏ, U Đào, người đi ở cho tộc Trần kề cận Trần Thị từ thuở lọt lòng và thầy đồ, kẻ dạy chữ thánh hiền cho Trần Thủ Độ từ tấm bé. Cả U Đào và thầy đồ đều bất lực câm lặng trước những sự kiện diễn ra với thân phận kẻ hầu người hạ. Chứng kiến sự chém giết bạo lực của Trần Thủ Độ, thầy đồ già chỉ có thể quan sát, tái ngắt, rã rời hoảng sợ. Mạch tự sự thứ ba, lời kể của thái tử Ân, Trần Thiếu Đế, vị thái tử được trông mong nối dõi cơ nghiệp tộc Trần nay chỉ còn là danh hiệu hư vô thời mạt, U Đào như “chiếc bóng vật vờ, dật dờ, làm như u đã ở cho tộc Trần suốt nhiều thế kỉ” nhưng “trong gia phả của dòng họ Trần không thấy chép tên”. (Gia phả). Cũng vậy, những câu chuyện “không đáng tin” về Nguyễn Huệ và Ngọc Hân được tái hiện dưới lời kể của những người chứng tự nhận mình “biết Huệ đã lâu” hay “chơi với Hân từ nhỏ”.(Mùa mưa gai sắc)

Điều đặc biệt là, người chứng câm lặng ở đây, dù không phải là nạn nhân trực tiếp, đã trở thành chủ thể chấn thương vì chính sự chứng của mình. Trong những truyện này, không phải ta đang nghe tiếng nói của những nạn nhân sống sót kể lại, những người trong cuộc, mà là tiếng nói của người chứng, như kẻ ngoài cuộc bất lực và hoàn toàn câm lặng vào thời điểm chứng kiến các câu chuyện đó, và chỉ còn lại những tự sự hoang mang, đau đớn của hồi ức. Ranh giới giữa cái biết và không biết, giữa cái đáng tin và không đáng tin càng nhập nhoè. Một điều nữa, nhân chứng là những nhân vật vô danh, những con người nhỏ bé, chứ không phải những nhân vật lịch sử. Phải chăng đó là một cách đặt vấn đề, tiếng nói về lịch sử có thể tìm nơi những con người nhỏ bé chưa bị lịch sử trưng dụng, những nhân chứng như kẻ “mang thay” các trải nghiệm chấn thương của kẻ khác? Mục đích của việc kể lại chấn thương của những người chứng là gì? Tại sao họ lại đeo nặng những chấn thương này khi chính họ không trải nghiệm? Đó có phải là một cách khác để những kẻ trải nghiệm thương chấn được lên tiếng, hay có thể xem những người chứng này như những phiên bản khác của chủ thể chịu đựng sự thương tổn kia? Các văn bản văn chương về lịch sử có thể làm điều gì tốt hơn là phơi trải nhu cầu giãi bày của những con người trong lịch sử?

 

Cơ thể nữ và sự chế ngự bạo lực về tình dục

Trong truyện Bên trong pháo đài, cú sốc gây chấn thương thứ hai trong tâm hồn Nhật là sự chứng kiến Nhu bị Trọng cưỡng hiếp, dù chuyện này Nhật đã biết nhưng vẫn là một trải nghiệm bất ngờ: “Rồi một đêm bất ngờ tôi thức giấc. Ở chiếc chiếu kế bên, nơi Nhu nằm, tôi bắt gặp một bóng đen trườn tới, đè lên mình Nhu. Ðứa con gái kháng cự yếu ớt, hai cánh tay của bóng đen săn chắc chống xuống mặt chiếu, một thân hình loang loáng mồ hôi lên xuống nhịp nhàng trên người Nhu. Tiếng thở của bóng đen dồn dập, hào hển. Tiếng thở của Nhu rên rỉ, đau đớn. Căn hầm tắt đèn tối om. Tiếng muỗi vo ve và tiếng cử động nhẹ của hai thân hình chập chờn trên mặt chiếu. Tôi không nhận rõ mặt người du kích, nhưng đoán là Trọng bởi cái lưng chắc khỏe, bả vai cuồn cuộn thịt. Tôi nhìn sững họ ở chỗ nằm. Lần đầu tiên tôi chứng kiến một cảnh tượng như thế.” Cú sốc này biến thành một sự chịu đựng kéo dài. “Ngực tôi bị nghẹn, trái tim đập mạnh muốn vỡ tung lồng ngực. Tôi cùng chịu đựng với Nhu hoạt cảnh thô bỉ của mỗi đêm.” Cũng như sự chứng cái ác, sự chứng những vụ cưỡng hiếp thân thể Nhu, cô gái yếu đuối nhất hầm hầu như một trải nghiệm về cái chết. Cơ thể nữ đã hiện diện như là nạn nhân của bạo lực tình dục, bị cả một đám đông những con người, không tách rời với hoàn cảnh lịch sử của họ, giày xéo.

Sắc đẹp của Trần Thị (trong Gia phả) qua những thao tác so sánh được nhìn như một sự cống hiến cho tộc Trần “Trần Thị lớn vụt lên như lắm lúa bát ngát mênh mông của tộc Trần” và chính Trần Thị khi lớn lên, đã “nhận biết vai trò của mình trước lịch sử”. Sự áp chế của dòng tộc lên cảm xúc cá nhân dẫn tới nỗi hoảng hốt kinh sợ trỗi dậy trong khoảnh khắc U Đào tắm cho Trần Thị, của U Đào khi nhận ra vẻ đẹp trần thế của thân thể Trần Thị là “thuộc về khoảng tường xây đắp hơn một trăm năm của tộc Trần”, và của chính Trần Thị trong tiếng kêu “U ơi, Thị sợ”. Những cảm xúc cơ thể cá nhân của Trần Thị đã bị tước đoạt, bị chế ngự vì nỗi sợ biết trước ấy, nỗi sợ làm “con công để thịt”, nỗi sợ hiến mình. Trong Mùa mưa gai sắc, Ngọc Hân hoàn toàn ý thức được việc dùng thân thể và sắc đẹp của mình cho mục tiêu rửa nhục cho nước trả thù cho cha, mưu đồ gây dựng lại nhà Lê và chính nàng là kẻ đồng loã cho những trấn áp lên cơ thể của mình. Ngọc Hân đã chấp nhận chịu đựng sự kinh tởm khi thân xác bị giày xéo cho những mưu đồ lịch sử ấy.

Khi phân tích truyện Giấc mơ Thổ, Đoàn Cầm Thi đã chú ý tới sự khai thác cơ thể nữ trong tác phẩm của Trần Vũ: “cơ thể của người nữ mang một ý nghĩa duy nhất với người nam: phương tiện khoái lạc và mục tiêu phá huỷ”, đồng thời, bà cho rằng, qua nhân vật mang tên Nữ của truyện ngắn này, “Trong nét vẽ của Trần Vũ, người n(N)ữ là hiện thân của cái đẹp vừa cụ thể vừa huyền ảo mà người nam hoang mang chiếm đoạt, để yêu thương, hành hạ và hối tiếc”. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng cách nhìn người nữ/cơ thể nữ như biểu tượng cái đẹp trong truyện ngắn Trần Vũ, cả ở truyện Giấc mơ thổ dường như là một cái nhìn lãng mạn hoá. Cảm giác về bạo lực tình dục đã trấn áp cảm giác về cái đẹp.

 

Cơ thể nữ và biểu tượng quốc gia, dòng họ

Trong Mùa mưa gai sắc, đêm hợp cẩn của Ngọc Hân và Nguyễn Huệ được Trần Vũ nhìn như một cuộc đổi chác lịch sử với những mưu mô, dục vọng chính trị làm động năng thúc đẩy. Với Ngọc Hân, việc trao/bán thân xác cho kẻ nắm quyền Bắc Hà “như cánh cửa ải phải đi qua” để “khôi phục triều Lê”. Nguyễn Huệ, ở một phía của chân dung, vừa là hình ảnh kẻ thống trị bạo ngược, tàn nhẫn vừa mang bi kịch tự nô lệ hoá mình trong tham vọng chiếm đoạt “đè ngửa lên biểu tượng trinh trắng của Thăng Long”. Khoái cảm của Huệ được miêu tả như khoái cảm “chứng kiến hành quyết”, là khoái cảm của con mãnh thú cấu xé con mồi hàng đêm “Huệ xô ngã sấp Ngọc Hân ra giường, tháo dây đai quật xối xả lên tấm lưng mảnh dễ tưởng như giải lụa bạch đang oằn mình chịu đòn.” Nỗi đau đớn tứa máu của Ngọc Hân cũng đồng thời là nỗi hận thù “Ngọc Hân chấm tay vào giọt máu còn rỉ ra ở bụng mình, đưa lên môi, máu của họ Lê phải trả bằng máu của Tây Sơn.”

Cũng vậy, con ngựa hung hãn của tộc Trần, Trần Thủ Độ, trong nỗi say đắm thân xác của Trần Thị đã hiện diện như một kẻ đại diện cho lịch sử trấn áp: “Trao thân cho tôi là trao thân cho đất nước. Hiến thân cho tôi là hiến thân cho tộc Trần! Cớ chi phải sợ? Hay chị muốn như con ngựa này?” và “tộc Trần khởi nghiệp trên thân xác Trần Thị”. (Gia phả)

Một cách mỉa mai, nhân vật nữ trong Bên trong pháo đài đã “hiến mình cho cách mạng theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen.”

Trinh tiết của phụ nữ đã bị biểu tượng hoá, không phải chỉ trong quan hệ với chế độ nam quyền, mà trở thành một biểu tượng có tính chất quốc gia. Ý tưởng về mối quan hệ thực dân – thuộc địa này đã từng xuất hiện trong truyện ngắn Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp, dưới cái nhìn của Phăng, một người Pháp giúp việc cho Nguyễn Ánh, Việt Nam, xứ sở nhược tiểu giống như “một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú vừa nhục nhã vừa căm thù nó.” Xa hơn nữa, Thuý Kiều của Nguyễn Du trước hết hiện diện bằng vẻ đẹp đạo đức của kẻ sẵn sàng “bán mình chuộc cha”. Tình dục, trinh tiết phụ nữ như thể trở thành một motif để các tác giả tái hiện mối quan hệ quyền lực và bạo lực trong các thiết chế xã hội.

Việc sử dụng hình tượng người nữ của Trần Vũ trong những truyện ngắn này có thể là một hướng khai thác khác với các truyện ngắn với bối cảnh lưu vong. Christina Thanh Cao, bàn luận về vấn đề “bản sắc lưu vong” (diasporic identity) tập trung trong “quan niệm về những nguồn gốc quốc gia và sự di chuyển xuyên quốc gia trong những hình tượng ngụ ý về phả hệ”, đã phân tích bốn truyện ngắn của Trần Vũ (Biển rợn san hô, Nhã Nam, Phố cổ Hội An, Pháo thuyền trên dòng Yang-Tsé) lần theo “phả hệ của bạo lực trong những hình tượng về khảo cổ học, chấn thương tâm lý- tính dục và hiện đại hoá”. Christina Thanh Cao xem việc khai thác “sự chế ngự tình dục nữ” hay việc đồng nhất “phụ nữ như quốc gia” trong những truyện ngắn này như một phương pháp biểu hiện chân dung chấn thương và sự khốn cùng của chính chủ thể lưu vong (như trong Pháo thuyền…), hoặc biểu hiện những giằng co của các quyền lực thực dân và quá trình hình thành chủ thể, quá trình trở thành cái khác (như truyện Phố cổ Hội An).

Trong những truyện ngắn về lịch sử, không gắn với trải nghiệm lưu vong mà tôi phân tích ở đây, cơ chế dán nhãn người nữ/cơ thể nữ như là quốc gia, dân tộc, dòng tộc, vốn mang bản sắc thuần tuý, trinh trắng, chịu cưỡng hiếp, tước đoạt, đồng thời cũng là kẻ đồng loã (chủ động hay bị động) dường như tiếp tục củng cố và góp thêm vào dòng chảy những nhân vật nữ bị trưng dụng cho mục đích quốc gia đại sự trong văn chương Việt. Điểm tôi muốn tranh luận ở đây là, trong khi đi sâu và khám phá cái ác, bạo lực, dục tính trong tâm lý con người, sự bạo tàn của các thiết chế lịch sử, dường như người nữ, nhất là cơ thể của họ, khi bị biểu tượng hoá trong những mối quan hệ tước đoạt, phải chăng đã trở thành một công cụ của nhà văn? Ở tác phẩm của Trần Vũ, mặc dù những con người trải nghiệm lịch sử là cá nhân, với thân xác cá nhân, nỗi đau đớn hiển hiện, với những mưu đồ riêng biệt, với ngôn ngữ, hình hài sống động, hiện diện cá nhân của họ cuối cùng vẫn bị thủ tiêu, bị trấn áp bởi những động lực lịch sử. Tình dục được khai thác không phải như một khía cạnh bản năng về sinh lý mà hơn thế, tình dục trở thành một phương tiện của trấn áp, hay là một cơ chế để tiết lộ cái hiện trạng trấn áp kinh khiếp ấy. Những kẻ trấn áp, vua chúa, những nhà cách mạng bị/tự tước quyền tồn tại cá nhân, cũng là những vật thế vì của lịch sử. Nhưng liệu Trần Vũ có rơi vào khuôn sáo của cách nhìn nạn nhân hoá người nữ /cơ thể nữ – kẻ hiến mình khi mô tả người phụ nữ (tự) chịu đựng làm nô lệ, trở thành công cụ/kẻ đồng loã hiển nhiên trong những cái khung tù ngục khủng khiếp của thiết chế, đạo đức, lịch sử, quốc gia, dòng tộc?

Tôi cho rằng, sự tấn công vào taboo tình dục trong cách nhìn của Trần Vũ, ít nhất là trong những truyện ngắn này, vẫn khá cổ điển: phụ nữ như những nạn nhân, những sự hiến mình đau đớn, những mưu mô bất thành, những nỗi đau không được công nhận, bị quên lãng hoặc trở thành những kẻ hiến mình được vinh danh của một thứ lịch sử hư huyễn nào đó. Tôi nghĩ có một sự lưỡng lự trong việc đồng nhất nhân vật với các chức năng lịch sử: đó vừa là cách tiết lộ sự trấn áp phụ nữ thông qua việc mô tả cơ chế lạm dụng thân xác cho những mưu toan lịch sử, đồng thời, chính bản thân diễn ngôn đó về phụ nữ cũng tăng thêm cảm giác trấn áp bạo lực. Sự trưng diễn nỗi đau đồng thời cũng là sự chế ngự nỗi đau, dưới những lí do dân tộc, quốc gia, dòng họ.

 

Tiếng than khóc của lịch sử

Sự trưng dụng cơ thể nữ lồng ghép trong chủ đề lịch sử có thể xem như một cách khai thác tiềm năng khám phá lịch sử của văn chương trong tác phẩm Trần Vũ. Ở khía cạnh này, tác phẩm văn chương có thể xem như những thương chấn (có thể được trải nghiệm trực tiếp hoặc bằng kinh nghiệm tưởng tượng) nổi loạn thành văn bản, thành tiếng nói, tiếng than khóc. Trách nhiệm nhà văn ở đây, là chính họ phải đem bản thân tư cách nhà văn của mình ra như một người chứng, như những chủ thể cất tiếng nói trong truyện của họ.

Không hướng tới việc xây dựng một lịch sử đáng tin mà hướng tới những phần khuất lấp của lịch sử và sự thật, những lời kể từ phía những nhân chứng câm lặng câu chuyện công – tội, kẻ phạm tội – nạn nhân, tội ác của lịch sử, sai lầm quá khứ dường như mãi là những dấu hỏi biến thiên mơ hồ, những cơn ác mộng hư thực hung dữ trong các truyện ngắn của Trần Vũ. Do đó, dường như không có sự khác biệt giữa lịch sử quá khứ xa (như những câu chuyện về tộc Trần, về Tây Sơn) tới lịch sử quá khứ gần (chiến tranh, cách mạng…). Nhưng hoàn toàn không có sự cào bằng trong các cách nhìn về lịch sử, để nhắc lại một luận điểm của Cathy Caruth: “Thông qua quan niệm về chấn thương,(…) chúng ta có thể hiểu sự nghĩ lại về những quy chiếu đó không phải để huỷ hoại lịch sử, mà để định vị lại lịch sử trong cách hiểu của chúng ta, đó là, chính xác là, cho phép lịch sử sống lại nơi mà sự hiểu tức thì không thể làm được.”. Đó là “lịch sử của chấn thương”, thứ lịch sử “không được tiếp nhận đầy đủ khi nó xảy ra” “một lịch sử có thể chỉ được nắm bắt trong chính sự không thể tiếp cận các biến cố của nó”. Nhận xét của Thanh Cao cũng thích đáng cho mối quan hệ của cá nhân và lịch sử trong tác phẩm Trần Vũ: “Những câu chuyện của Trần Vũ là sự kết hợp đáng chú ý của chấn thương tâm lý và bối cảnh lịch sử, nơi trải nghiệm của các nhân vật của anh về sự khốn cùng, thấp hèn không thể chia tách được với sự khác biệt văn hoá và chính trị của họ.” Tôi không nghĩ Trần Vũ đã thành công trong việc coi lịch sử như một chất liệu để làm nổi rõ những bi kịch cá nhân, mà đúng hơn, chính sự khai thác con người như những thân phận – chức năng đã làm thức tỉnh về một lịch sử đoạ đày. Cái lịch sử đoạ đày đó, đang được kể lại bởi những kẻ chứng mang thân phận ngoại biên, bất lực, nằm ngoài lịch sử, những kẻ chứng chưa bao giờ được ghi danh, người kể chuyện trong các câu chuyện, những mảnh vỡ khuất trong bóng tối và kể lại ta nghe câu chuyện bạo liệt về những thân phận với ngôn ngữ mang đầy thương tích tâm lý.

Chính ở đây, các tự sự lịch sử được viết như “lịch sử của chấn thương” có thể trở thành kẻ nổi loạn, kẻ lên tiếng tra vấn ý nghĩa và giới hạn của sự tái hiện những sự kiện đã xảy ra, giải thiêng lịch sử và nỗ lực tái hiện những gì tưởng chừng không thể tái hiện được. Sự viết về chấn thương và viết trong những chấn thương này không xa lạ với những mối quan tâm bức thiết về sự bình yên của con người và lịch sử, trong một thế giới con người đã/đang trải qua những cơn sang chấn khủng khiếp của chiến tranh, những thảm hoạ tự nhiên, của những quá khứ khuất lấp (đòi) được khai quật, và của chính đời sống cá nhân bất an ngay cả trong không gian gia đình hay trong thế giới kí ức riêng tư. Những câu hỏi đặt ra từ việc sáng tác và tìm hiểu các văn bản văn chương này, vì thế, không tách rời với việc tìm kiếm những khả thể của văn chương trong nỗ lực tham gia vào việc đặt ra và xới lại những câu hỏi về quá khứ và sự biểu hiện quá khứ, cất lên những tiếng nói khẩn thiết về con người, về lịch sử và về chính bản thân văn chương. Tìm hiểu các tự sự chấn thương hay nghiên cứu về chấn thương nói chung, do đó, không phải chỉ được nhìn như một công cụ hữu ích tương thích với “thế kỉ thảm hoạ” mà con người vừa/đang trải qua, mà đúng hơn là một sự tự thức tỉnh của con người về chính sự sống còn mà mình phải đang chịu đựng, đang nếm trải.

Đôi khi tôi có cảm giác không thể chịu đựng nổi khi đọc truyện Trần Vũ, như một sự kháng cự, một tự vệ từ bên trong tâm lý con người, như thể tránh phải nghe giọng nói và tiếng than khóc phát ra từ kẻ sống sót khóc than cho những người chết, mà ta cũng không thật chắc chắn về sự chết chóc đó. Người đọc luôn nằm ở tình thế của kẻ diễn giải hoang mang những câu chuyện được kể lại, tình thế hoang mang giữa biết và không biết, thậm chí mất thăng bằng trước những trang viết tập trung khai thác cái không bình thường, thậm chí phi nhân với một thứ ngôn ngữ rậm rịt, dày đặc ẩn dụ, liên tưởng, phóng đại, huyền thoại. Quả thực, “chấn thương có lẽ còn hơn cả một tình trạng bệnh tật, một sự ốm đau hay một trạng thái tinh thần bị tổn thương; bao giờ nó cũng là câu chuyện về một vết thương cất lên tiếng khóc, tiếng khóc ấy hướng đến chúng ta, nó muốn kể cho chúng ta về một hiện thực hay một sự thật nào đó không thể biết được nếu theo một cách khác.” Văn học, bằng ngôn ngữ, đã giúp chúng ta mở rộng hệ từ vựng về nỗi đau. Chúng ta có thể nhìn lại mình như những kẻ bị lịch sử đặt cạnh nhau ngẫu nhiên, xoá nhoà không gian, thời gian, các triều đại, quá khứ và hiện tại, và không thể chung sống hoà bình nếu không lắng nghe và nhận biết những nỗi đau đang than khóc. Ở dưới mỗi câu chuyện luôn có những câu chuyện khác, những câu chuyện đan dệt bằng những cơn mộng mị dai dẳng về quá khứ, đó là nơi “chấn thương trở thành văn bản” hay “vết thương trở thành giọng nói”.

 

Tháng 3, 2013.

 

Vì bài viết đang trong quá trình hoàn thiện, vui lòng không đăng tải nếu không có sự đồng ý của tác giả. Xin cảm ơn!

 

Tham khảo:

Berger, James (1997). Trauma and Literary Theory. Contemporary Literature , Vol. 38 , No.3, Autumn.

URL: http://www.jstor.org/stable/i251768

Brown, Lara S. (1995). Not Outside the Range: One Feminist Perspective on Psychic Trauma. trong C. Caruth (Ed.), Trauma, Explorations in Memory (pp. 100-113). Johns Hopkins University Press.

Cao, Christina Thanh (2006). National Descent: Vietnamese Diasporic Literature and Film, University of California, Los Angeles.

Caruth, Cathy (1995). Recapturing the Past – Introduction phần 2 trong C. Caruth (Ed.), Trauma, Explorations in Memory (pp. 151-158). Johns Hopkins Univerisity Press.

Caruth, Cathy (1996). The Wound and The Voice. trong Unclaimed Experience: Trauma, Narrative, History (pp. 1-10). The John Hopkins Univerity Press. Bản dịch Vết thương và Giọng nói của Hải Ngọc

Nguồn: http://hieutn1979.wordpress.com/2012/12/08/cathy-caruth-vet-thuong-va-giong-noi/

Caruth, Cathy (1995). Trauma and Experience – Introduction phần 1 trong C. Caruth (Ed.), Trauma, Explorations in Memory (pp. 3-13). Johns Hopkins University Press.

Caruth, Cathy (1991). Unclaimed Experience: Trauma and the Possibility of History. (Claire Nouvet, Ed.) Yale French Studies, 79 (Literature and the Ethical Question).

Goldberg, Amos. (2006). Trauma, Narrative, and Two Forms of Death. Literature and Medicine , No.1, Spring, (pp. 122-141). Bản dịch của Hải Ngọc: Chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết

http://lythuyetvanhoc.wordpress.com/2010/11/11/amos-goldberg-ch%E1%BA%A5n-th%C6%B0%C6%A1ng-t%E1%BB%B1-s%E1%BB%B1-va-hai-hinh-th%E1%BB%A9c-c%E1%BB%A7a-cai-ch%E1%BA%BFt-ph%E1%BA%A7n-2/

Tuấn, Hoàng Phong. (2011). Những nỗi đau thức tỉnh. Văn Nghệ Trẻ số 31.

 

 

 

 

 

Advertisements

One comment

  1. chị ơi, em thích cái lúc nào cũng bồn chồn ra đi và lúc nào cũng bồn chồn ở lại lẫn với ngổn ngang trăm mối bên lòng của chị… <3.

    Liked by 1 person

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s