Mai Văn Phấn -Thơ Nhã Thuyên sinh sôi trong ngọn lửa

Thơ Nhã Thuyên sinh sôi trong ngọn lửa

(Đọc tập thơ “từ thở, những người lạ”(*) của Nhã Thuyên, Nxb. Hội Nhà văn & Công ty Văn hoá và Truyền thông Nhã Nam, 2015)

  Mai Văn Phấn

 

Thơ Nhã Thuyên nhắc nhiều đến lửa, hoặc gợi những hình ảnh liên quan đến lửa như thiêu đốt, ngùn ngụt cháy, hoả hoạn… Tôi có cảm giác, nhà thơ coi lửa như một điều kiện, một manh mối, duyên cớ để nhận chân đời sống, khơi dậy đống tàn tro của quá khứ, những cuộc di biến, tao loạn… Với chị, lửa là cửa sinh-tử của con người và vạn vật. Đó cũng là nơi kết thúc, là khởi đầu của hạnh phúc, khổ đau, tự do, mất tự do, biến tướng, hệ luỵ, sầu khổ, an lạc… Đọc tập thơ “từ thở, những người lạ” của Nhã Thuyên, bạn đọc sẽ cảm nhận, mọi tồn tại và chuyển dịch trong đời sống này đều được sinh ra, biến hoá qua chiếc “vòng lửa” đó.

 

Tập thơ có cấu trúc và hình thức trình bày khá lạ lẫm. Nội dung của “từ thở, những người lạ” gồm bảy phần: chốn thân thiết ấy – dấu – lửa – tro – cầu hồn – từ thở, những người lạ – bất tận cuối. Nhìn vào những đề mục trên ta thấy, tập thơ tái hiện cuộc chu du “vô tiền khoáng hậu” của kiếp người. Nó có diện “phủ sóng” rộng, từ tâm thức, tâm lý, tính dục…, đến hiện thực đời sống, trầm tích văn hoá, lịch sử… Sách dày 159 trang, trong đó, 22 tranh minh hoạ do chính tác giả Nhã Thuyên vẽ bằng bút dạ đen, khá đẹp và ấn tượng. Tại trang 3, chị vẽ ba tốp người siêu nhỏ đi lẫn giữa tên tập thơ và nhà xuất bản. Những tốp người ấy hiện trên nền giấy trắng trông giống những con kiến biết đi bằng hai chân trên sa mạc. Tiếp đến trang 105, “đàn kiến” lại được Nhã Thuyên vẽ cạnh những con chữ do chính tay chị viết. Chữ và “kiến” bỗng dưng tụ lại thành chiếc tổ lớn với những chuyển động hỗn độn. Đó chính là ý đồ của Nhã Thuyên chuẩn bị cho phần kết sau đó của tác phẩm.

 

Đọc “từ thở, những người lạ”, tôi hình dung một cảnh giới, trong đó những giá trị vật chất và tinh thần đang bén lửa hoặc lặng lẽ cháy sáng để tự biến dạng, tự huỷ diệt, biến mất, hoặc tái sinh… Nhà thơ gọi cuộc hoả hoạn ấy là “ngọn lửa đòi nhiên liệu, đòi toả rạng và đòi huỷ hoại” (không gì ngoài tiếng đập), “đốm lửa cháy bền bỉ”, “cơn bão lửa phục sẵn trong đất” (lửa), “ngọn lửa đã im dần những tiếng kêu… treo mình bập bùng không ngừng nghỉ” (không gì ngoài tiếng đập), “những kiếp lửa” (trò chuyện về lửa)…

 

Một đời sống lửa sinh sôi, náo động luôn hiện hữu trong thơ Nhã Thuyên. Trong đó, ngọn lửa, trước hết được thắp sáng trên da thịt con người, soi sáng những khát vọng, giới tính/ dục tính, mở ra một biểu tượng kép: máu của người và lửa của trời. Ngọn lửa ấy cho người đọc nhận ra tính nhị nguyên cơ bản của tàn lụi và sinh trưởng, nhân và quả, gieo và gặt… Như ở câu thơ này: bầu vú đỏ hoa rừng rực lên ráng chiều, tôi đang mở ngực và chăm chú nhìn những ô cửa đỏ mở trên ngực (tất cả những câu chuyện này cho ai). Ở đây, ý niệm về sự bén lửa, bốc cháy được nhà thơ nâng thành biểu tượng của khát vọng, chờ đợi, thành đích đến của những chuyển động. Đặt trong trường liên tưởng ấy, ta sẽ hiểu vì sao trong thơ Nhã Thuyên, một đám mây, nếu nó không được hoặc không thể “bắt lửa” cháy sáng, tất phải chuốc lấy những bi kịch khôn lường: tôi không hiểu tại sao đám mây còn dày vò ngày lại đêm về nỗi cô độc đang hoá bê tông, làm nó mắc kẹt giữa hai chạc cây, không nhấc mình bay lên nổi, không thể bắt lửa (lửa). Và, trong bài thơ “trò chuyện về những đoạn kết”, nhà thơ hân hoan bởi giấc mơ được đốt cháy trong một “cái lưỡi không lồ”: tôi ẩn danh phóng túng yêu người/ cả tro than tôi cũng lặng lẽ     khi    tôi    cháy bùng trong cái lưỡi khổng lồ của nó.

 

Lửa xuất hiện nhiều trong những khúc “cầu hồn” mà Nhã Thuyên ghi lại. Hoà mình vào đó, người đọc được chứng kiến biết bao điều phi lý lạ kỳ. Ấy là những cái bóng cũng có khả năng bắt lửa. Chúng được đốt cháy như ngọn đuốc, tờ giấy, hoặc gợi cho bạn đọc liên tưởng tới hành động “phi tang” bằng lửa/ hoả táng những hồ sơ, căn cước của một nhân thân nào đó: lửa, thanh củi cháy dở, đêm tàn, những vệt máu cũ, mùi khét trong lò/ mẹ ngồi đốt những cái bóng tội nghiệp của lũ con bà mang theo đến gần hết cuộc đời, bọn chúng đã bỏ đi hết, chỉ còn/ những cái bóng ăn năn, xót thương, ái ngại, thờ ơ, nhạo cợt, hống hách, lạnh lùng/ những vệt máu cũ bốc mùi khét trong lò (lò).

 

Cùng là lửa đấy, song trong không gian thơ mình Nhã Thuyên thiết lập những trạng thái cháy khác nhau như: cháy rụi, bất ngờ đốt cháy, cháy bền bỉ, cháy im lặng, cháy vô nghĩa, cháy dần, cháy dở, đám lửa bùng cháy, lửa cháy vũ điệu run rẩy… Từng trạng thái biểu lộ đa dạng những sắc màu và nhịp điệu đời sống, cũng như nhiều tâm trạng, cung bậc cảm xúc trong từng câu thơ của những bài riêng lẻ. Và đọc rồi ta sẽ càng khẳng định, cháy là trạng thái tinh thần thường trực trong tư duy và cảm xúc của nhà thơ. Đôi khi cháy trở thành nỗi ám thị dẫn dắt người đọc tới một hành động khác tiếp theo: một ngày đẹp trời, hắn buồn bã nhận ra trái tim chỉ đập, đập, đập, đập, những nhịp đập nô lệ hormone. đám lửa bùng cháy này là một bức vẽ. từ độ ấy, luôn luôn, hắn cần đốt cái gì đó, cho đỡ nhớ ánh lửa (đồ thừa).

 

Có thể gọi cháy là những khát khao tự biến dạng, tự phá vỡ trong thơ Nhã Thuyên để thiết lập trạng thái mới, không gian mới. Cũng chính những biến dạng ấy đã tạo nên sự chuyển dịch quan trọng trong thế giới nghệ thuật của chị. Trước Nhã Thuyên, tinh thần tiền phong (avant-garde), khai phóng ấy được khởi xướng từ thế hệ nhà thơ cách tân đầu tiên của Việt Nam sau 1975, như Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc… Trong đó, nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc từng biểu đạt tinh thần cách tân trong bài thơ “Hội hoạ lập thể” như sau: Để anh đủ sức đập vụn mình ra mà ghép lại/ Nung chảy mình ra mà tìm lõi/ Xé toang mình ra mà kết cấu.

 

Nếu ví tác phẩm của những nhà thơ đi trước tựa hừng đông, ban mai vừa rạng của tinh thần canh tân trong thơ Việt đương đại, thì đến thế hệ Nhã Thuyên, ánh sáng tinh thần đó như mặt trời chính ngọ đã phủ ngập, khuynh loát mặt đất. Trong chùm thơ năm bài cùng mang tên “những hình dung xa lạ”, tôi nhận thấy cuộc “tự huỷ” của Nhã Thuyên được thực hiện triệt để từ gốc đến ngọn. Hội tụ ở đây là những hình ảnh, những chuyển động thường không diễn ra đơn lẻ, mà kéo theo hàng loạt những dịch chuyển khác, làm cấu trúc tổng thể trước đó bị gãy vụn, xô lệch. tái dần trong những cơn hôn tôi đổ ngập vào tôi đầy bóng tối (những hình dung xa lạ, tr. 24); làn da mưa xanh những sinh linh vai trần. kêu dưới lớp phù sa bãi bồi rải đầy xác loài chim đã bay và chết vô hướng (những hình dung xa lạ, tr. 27). Đến lúc này, hiện thực đời sống được Nhã Thuyên tái hiện không còn tuân theo quy luật tự nhiên thông thường, mà trở nên cong vênh, căng phồng và phát nổ như những đồ vật trong một cuộc hoả hoạn: những chiếc rễ cây dốc ngược hút từng giọt đến kiệt/ bộ da trút/ xuống đôi cánh tay vạm vỡ của kẻ đi săn/ hơi thở và bóng tối sốt bỏng (những hình dung xa lạ, tr. 28); Máu nàng trôi loang ngàn cánh hoa cúc (những hình dung xa lạ, tr. 31).

 

Những hình ảnh trong thơ Nhã Thuyên thường được dựng trên “rìa vực” (tên một cuốn sách của N.T.) chênh vênh của những khái niệm, những cặp phạm trù đối lập, như sự thật và giả trá, độc ác và thánh thiện, bóng tối và ánh sáng, v.v.. Chúng không chỉ kết nối các chiều không-thời gian mà làm đảo lộn trật tự, trình tự trong đó. Như những câu thơ: gã điên trong phố thè chiếc lưỡi nhờn nước miếng thèm thuồng/ mùi vị bình minh cổ xưa (những hình dung xa lạ, tr. 30); để trừng phạt đàn ông và rủa nguyền đức hạnh, nàng phản bội gã trong cơn mơ/ nàng hôn không thôi đôi mắt chết ai khoét bỏ nằm ngơ ngất/ nàng bay trên ngả đường ấu thơ cùng con chim trúng thương (những  hình dung xa lạ, tr.31). Những hình ảnh này, đôi khi được nhà thơ sắp đặt độc lập, không chịu sự chi phối của ngoại cảnh hay những tác động khác để mang ý nghĩa biểu cảm riêng biệt: “những cái miệng nhơm nhớp của con chó già”, “xác chết”, “chiếc thai đẫm nước”, “thai hoang”, “những sinh linh trần”, “con ngựa già”, “tiếng kêu lầy lội”, “những người đàn bà mòng mọng và nhũn”, “con cá trên bức vẽ tổ tiên”…

 

Xuyên suốt tập thơ “từ thở, những người lạ”, Nhã Thuyên thường sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ ba, như “ngươi”, “người”, “hắn”, “gã”, “người lạ”, “kẻ lạ” làm nhân chứng, manh mối, người dẫn chuyện… Đôi khi “hắn” được nhà thơ xây dựng thành nhân vật chính, mang tính biểu trưng cho hiện thực, dĩ vãng, hoặc tựa những ám dụ từng căn bệnh của lịch sử, thời đại: tôi níu tay hắn, tôi bám víu, tôi tham vọng, tôi phiêu dạt, tôi sống và chết trong hai gọng kìm siết chặt (đùa chơi thêm nữa); tôi không đợi hắn, từ một cơn mưa xa, cơn mưa xa, hắn đến, im lặng, vươn tới im lặng, mọc vuốt im lặng, ai nén bóng tối hắn dồn chân tôi, ai cắn chân tôi, đau êm ái…/ tôi hỏi: người là phiên bản thứ mấy của Im Lặng? (mưa đen). Chuỗi đại từ nhân xưng ngôi thứ ba này chính là “những người lạ” mà nhà thơ Nhã Thuyên thường xuyên muốn trò chuyện, lục vấn, đối thoại, truy xét… Chính ngôi thứ ba này là đầu mối để tìm ra những “mồi lửa” sinh ra những cuộc hoả hoạn, di biến trong tập thơ.

 

Hiện thực trong thơ Nhã Thuyên pha trộn, giao thoa giữa thực và ảo, mộng mị và khát vọng, lú lẫn và minh tuệ… Hiện thực ấy thường mang tới bạn đọc những ý nghĩa kép, khái niệm đảo nghịch về một hiện tượng. Trong thế giới của Nhã Thuyên, hình ảnh lửa cháy không còn đơn thuần là biểu tượng của sự huỷ hoại, huỷ diệt, mà còn chứa đựng trong đó những cảm giác đẹp đẽ mang ý nghĩa của khai sáng, phục sinh… Do vậy khi đọc thơ Nhã Thuyên, bạn đọc luôn cảm nhận một đời sống sinh sôi, nảy nở và náo hoạt trong “những kiếp lửa” ấy: trò chơi vừa bay lên vừa mở ngoác thêm nữa của trái tim làm những tia máu vút lên vô hướng/ để tỏ rõ uy quyền, tôi đã bịt kín các cửa sổ (trò chơi ban mai).

 

Tôi đọc “từ thở, những người lạ” và bị nhấn chìm bởi ngọn lửa và nhiệt lượng toả ra từ đó. Tập thơ này mang đến cho tôi cảm giác rất lạ, đôi khi không bỏng rát, mà dịu dàng như gió xuân, như mưa xuân… Chính những điều kỳ lạ này đã làm nên sự phồn sinh trong thơ Nhã Thuyên: bầu trời bờ đất nâu ướt ôm vòng bàn chân trần, không gian tôi, lá khô rào rạo vỡ mùi mưa nồng, cơ thể tôi, mỏng loang trong vũng nước đọng (cầu hồn – người lạ). Thơ Nhã Thuyên cho người đọc cảm nhận được tinh thần của ngọn lửa đầy biến hoá và đa dạng, giống như cảm nhận về đất đai, nguồn nước và khí trời. Lửa cho con người ánh sáng và hơi ấm. Trong cảm giác thiêu đốt, huỷ hoại của lửa, người đọc vẫn cảm nhận được sự sinh thành, vươn dậy của sự sống bất diệt, vô tận trong thơ chị. Cùng điểm danh một số cụm từ rút từ tập thơ mang ý niệm chuyển dịch, sống động trong trạng thái yên lặng của Nhã Thuyên sẽ thấy rõ hơn điều này: những kết nối lặng lẽ, nhảy múa im lặng, chúng im lặng và tôi thở chậm, những đêm lặng phắc nhất, sự im lặng hoàn hảo, sự im lặng làm tôi giàu có, đến được nơi vắng lặng, tiếng im lặng rền rĩ, lựa chọn im lặng, hiện diện im lặng của ta, vết xăm cũ lặng lẽ bò khỏi cơ thể, cuộc tự sát im lặng, màu đen lặng ngắt, sự im lặng tàn nhẫn, lúc tôi bận bịu lặng im, dấu máu lặng câm, lặng lẽ khi tôi cháy bùng, mặt trời im lặng đỏ, v.v..

 

Sự yên lặng trong thơ Nhã Thuyên chính là cánh cửa mở ra không gian rộng lớn. Điều đó cắt đứt quá trình tư duy thuần lý, đồng thời phá bỏ mọi quy ước và công thức của ngôn từ. Yên lặng là trạng thái sinh ra nội lực, sức mạnh cho con người và vạn vật tồn tại, sinh sôi. cuối cùng, mình sẽ nín thở, lẻn trốn, cùng nhau, hồ trên núi, bình yên vĩnh cửu và xanh mát dịu dàng (những hình dung xa lạ, tr. 33).

 

Đi cùng thơ Nhã Thuyên, tôi được trải nghiệm nhiều trạng thái yên lặng trong “từ thở, những người lạ”. Có yên lặng phân rã, yên lặng kết cấu lại, lại có yên lặng sinh sôi, yên lặng chuyển dịch bất tận… Bạn đọc hãy cùng tôi yên lặng để thưởng thức những câu thơ giàu liên tưởng và căng tràn cảm xúc sau đây của Nhã Thuyên:

 

ngửi mùi bão, tôi đào hố nơi tấm lưng người tìm chỗ trú ẩn, máu đang dâng lên, người có thể ngửi mùi thơm dào dạt (từ thở, những người lạ – trò chuyện về trò chơi).

 

trong lúc đợi người, bởi cơn đói đã lùi, tôi ngồi đào xới những con ma trốn trong đất xốp, nơi đây người ta nhân giống một loài khoai lang kỳ lạ, những rễ củ to cỡ bắp đùi luôn dậy mùi hương mê ngủ, đôi khi cơn sốt lên và gió chuếnh choáng, tôi nán lại hỏi chuyện đất và rình rập từng ngọn cỏ nhen, huyền thoại kể ngọn cỏ đầu tiên luôn đọng sẵn một linh hồn ân ái, ăn vào mình sẽ no đủ yêu thương bốn mùa (từ thở, những người lạ – trò chuyện về nước).

 

Trạng thái yên lặng để thanh lọc và chuyển hoá thân tâm trong thơ của Nhã Thuyên cho thấy, chị đã tích tụ được năng lực giác ngộ và tự giải thoát khỏi những biến cố, hệ luỵ của đời sống: bây giờ, tôi đã quyết nằm yên trong bình sẽ nằm yên trong bình và tro tàn không bay lên nữa (tro). Sau cuộc hồi sinh trong ngọn lửa, đây là sự thức nhận đầy minh tuệ và tỉnh táo của chị: khi xung quanh say ngủ, tôi sẽ lẻn ra ngoài tắm mưa như một con chuột nhắt nghịch dại, chỉ để thấy mình bé bỏng và thương tổn (cầu hồn – vườn); đôi cánh đã mất, nhưng tôi còn thấy đó, u bướu cây cành lưu dấu sẹo thâm tái, vết máu ửng trên da nơi đôi cánh mọc và bay đi (trò chuyện về cơ thể).

 

Qua “từ thở, những người lạ”, nhà thơ Nhã Thuyên đã mở cho bạn đọc nhiều điểm nhìn để quan sát và chiêm nghiệm đời sống, thiên nhiên, thế giới… Tập thơ là một hành trình của cuộc hồi sinh trong biến cố hoả hoạn. Tôi cảm nhận những vết bỏng từ những cuộc hoả hoạn ấy thường mau lành và không để lại di chứng. Bạn đọc cũng dễ dàng nhận thấy điều này ở cuối mỗi bài thơ, hoặc cuối mỗi trường đoạn. Ở đó, tâm thế nhà thơ được lắng lại, trong vắt như một cốc nước đặt nơi yên tĩnh: bây giờ, tôi vẽ một vòng tròn trên bãi cát, và tôi lún sâu mãi xuống cát ướt, cho tới khi hoàn toàn vắng lặng, và tôi sẽ không trở về (Dấu vết của khoảng trống). Thơ Nhã Thuyên trong những trạng thái hồi sinh luôn chứa chan hy vọng, tơ non và hàm ẩn một nội lực mạnh mẽ: những rễ cây cựa quậy đất cằn, những vô vọng mở chân trời, một mùi hương vắng mặt nhảy múa quanh ta, ngọn lửa cháy vũ điệu run rẩy, mất và tìm thấy và chưa từng đánh mất, và tôi yêu người, và tôi nói yêu người mỗi sáng, tinh khiết như ban mai, tự do như hương thơm, quấn quýt như hương thơm (từ thở, những người lạ – trò chuyện về khoảng cách).

 

“từ thở, những người lạ” là tập thơ đầu tiên của Nhã Thuyên được xuất bản đồng thời trong bản dịch tiếng Anh bởi Nxb. Vagabond Press (Australia), do nhà thơ Kaitlin Rees dịch, mang tên “words breathe, creatures of elsewhere”. Đây cũng là cuốn sách thứ năm sau một số tác phẩm của chị được xuất bản trước đó là: “Viết” (Nxb. Văn học, 2008), “Ngón tay út” (Nxb. Hội Nhà văn & Phương Nam Book, 2011), “Rìa vực” (tự xuất bản, 2011),  “Màu cỏ xanh trong suốt” (Nxb. Trẻ, 2012, in chung). Những tác phẩm này, về hình thức, là sự pha trộn giữa thơ và văn xuôi. Nhưng tôi coi chúng đều là những tác phẩm thơ, bởi cùng chung tư duy thẩm mỹ, tư duy hình tượng. Đặc biệt, chúng thể hiện rõ nét cách thiết lập không gian, kết nối điểm nhìn, ngôn ngữ biểu đạt của Nhã Thuyên. Ngoài ra, chị còn viết nhiều tiểu luận, và dịch thuật, biên tập…

 

Nhã Thuyên sinh năm 1986, cách thế hệ các nhà thơ cận kề sau cuộc chiến tại Việt Nam khoảng ba mươi năm. Qua các những tác phẩm thơ, bạn đọc dễ dàng nhận thấy thơ Nhã Thuyên đã khác, mới mẻ hơn thế hệ thơ trước đó. Như vậy, một thế hệ mới/ khác đã xuất hiện. Điều đó cho thấy, hành trình của thơ Việt đương đại đang diễn ra đúng quy luật và đạt được những thành tựu đáng kể, tương tự một số nước trong châu Á, như Hàn Quốc, Nhật Bản…

 

Tôi muốn nhấn mạnh thêm về cái khác trong thơ Nhã Thuyên. Trong thơ các nhà thơ cách tân thế hệ trước đó, tư duy thẩm mỹ của họ ít nhiều vẫn chịu ảnh hưởng của hệ hình thi pháp cũ. Sự cách tân của thế hệ này thường kết hợp tâm thức hiện đại với một số thủ pháp nghệ thuật phương Tây. Họ xây dựng được không gian thơ đa chiều, đa điểm nhìn, nhưng hình ảnh trong đó thường tồn tại và chuyển dịch đơn lẻ. Cũng có một số tác phẩm có đa chiều chuyển động của phức hợp những hình ảnh, nhưng chưa thành hệ thống thẩm mỹ chắc chắn. Đến thơ Nhã Thuyên, chị đã tiếp nối được những bước đi của thế hệ cách tân trước đó. Điều mới mẻ và cũng là cái khác cần ghi nhận trong thơ chị là, những hình ảnh thường xuất hiện đan xen, đồng hiện, tạo ra những chuỗi phản ứng khác nhau và liên tiếp. Ngôn ngữ thơ của Nhã Thuyên đa giọng điệu và biến ảo hơn thế hệ thơ trước đó. Đặc biệt, thơ Nhã Thuyên hầu như xoá nhoà dấu vết của các thủ pháp kỹ thuật bằng cảm xúc mạnh mẽ và tự nhiên. Xin dẫn một đoạn thơ trong “từ thở, những người lạ” để bạn đọc dễ dàng cảm nhận, cũng là minh chứng cho nhận định của tôi:

 

những chiều muộn, dòng sông quanh chúng tôi dềnh lên trắng nhợt, cha tôi cần mẫn gột rửa và cạo những lớp bụi dày lên từng chiếc lá, cạo dần cơ thể mình, trìu mến cắt tỉa những tháng ngày đau cặn, tôi vờ thơ thẩn để ngắm người từ xa trong im lặng, tiếng cạo chạm đến xương, buốt thít, khói thuốc vờn bay xanh xám, buổi chiều thu nhỏ dần bóng tôi, tôi sẽ biến mất vào bóng tối khờ dại này để nghe tiếng người gọi khẽ (cầu hồn – cỏ).

 

Về thơ Nhã Thuyên, nhà thơ Kaitlin Rees (Hoa Kỳ), người đang cùng Nhã Thuyên biên tập tạp chí văn chương AJAR nhận định: “Thế giới thơ Nhã Thuyên vừa kỳ dị vừa bình thản. Có một sự thanh lặng trong cơn phóng túng cuồng loạn, một thế giới sống sót vĩnh viễn sự phá huỷ vĩnh viễn của nó. Những bài thơ này chuyển dịch dọc cơ thể ấy, và trìu mến, dịu dàng, xé ra khỏi chính nó. Như một yếu tố của tự nhiên, như cơn mưa, viên đá, luồng gió, cơ thể này được về lại cùng vũ trụ. Một sự hiến tặng tình nguyện của một trái tim. Tổn thương, nhưng không ướt át xúc cảm, trái tim này bị phơi trần và nhịp đập của nó vang vọng. Dù nó có bị móc rỗng, nó vẫn đập”(*).

 

Sinh sôi trong ngọn lửa, tôi mong hình dung này chỉ là một lát cắt trong hành trình dài của nhà thơ Nhã Thuyên. Giờ đây, bạn đọc đã nhìn thấy một năng lượng sáng tạo lớn cùng bản lĩnh tự tin và mạnh mẽ trong con người thi sĩ của chị. Để kết thúc bài viết, tôi xin gửi tới nhà thơ Nhã Thuyên lời chúc an lành, cảm ơn Nhà xuất bản Hội Nhà văn & Công ty Văn hoá và Truyền thông Nhã Nam đã xuất bản tập thơ này!

 

4/2016

 

(*) Tập thơ do Nxb. Hội Nhà văn & Công ty Văn hoá và Truyền thông ấn hành năm 2015. Tên tập thơ, những bài thơ trong tập, chữ sau dấu chấm và chữ đầu tiên xuống hàng, tác giả Nhã Thuyên không viết hoa.

(*) Nguồn Website https://junglepoetry.wordpress.com

 

(Bài đăng có sự đồng ý của tác giả Mai Văn Phấn, do tác giả cung cấp. Rút từ tập sách Mai Văn Phấn – “Không gian khác” – tập phê bình, tiểu luận, 2016. Sắp ra mắt)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s