chốn thân thiết ấy

the hanged man

-the hanged man-

một lối đi

thế giới ồn, những câu chuyện lớn, những sự kiện bộn bề, mình ngồi lại cùng nhau, vắng vẻ, ánh nến phập phồng, dăm diễn đạt lẻ loi, mơ hồ, kì cục, những sợi tóc rụng trong sự quên lãng của kí ức.

đâu phải dễ dàng: lựa chọn trở nên riêng tư, thậm chí bảo bọc, nuôi dưỡng, làm nảy nở cái riêng tư ấy, không thuận chiều, không tự hoại trong những trật tự thiết lập sẵn, chịu đựng và nhất định không phải kẻ cam chịu.

người có dám đối mặt với nỗi vô vọng này: tin và kiếm tìm chiều sâu và ý nghĩa của sự sống và nghệ thuật. có gì sâu hơn bề mặt, có gì ý nghĩa hơn nỗi hư vô? có gì tha thiết hơn những kí ức chấn động, những tưởng tượng không đáy đùa chơi, những từ ngữ xa lạ mở lối, những trang viết tự cất lời?

đây, những bờ vực cheo leo, những lối nghĩ hẻo lánh, những hiện diện chực thương tổn nhưng không làm ra tội nghiệp, những tiếng nói tự từ chối thẩm quyền, từ chối gửi thông điệp, những nỗi bận bịu kháng cự sức quyến dụ của ham muốn đạt năng suất, lợi ích, sự sáng rõ của các vấn đề, sự trói buộc dễ chịu của các ý tưởng.

có thể là một lối đi: không chỉ cá nhân, nghệ thuật, thơ ca trở nên thiết thân hơn, riêng tư hơn, riêng tư hơn nữa.

 

nỗi sợ các ranh giới

để có cảm giác an toàn hơn, ta phải xây thêm một số bức tường. ta sẽ chỉ đi những lối đã mở, những con đường đã sáng đèn, những hướng rẽ hẳn sẽ đến được nơi nào đó.

tránh xa cuộc đi sâu hút vào cõi riêng lẻ và ngôn ngữ đẫm bóng tối này, tránh xa trải nghiệm và thể nghiệm, vì người sẽ chẳng tới nơi nào cả.

đừng khám phá điều bí nhiệm này: mọi ngôn ngữ gặp nhau nơi điểm giao cắt nối bầu trời và đại dương, ta tưởng nhìn thấy lằn ranh, nhưng lằn ranh đó luôn tự xóa dần chính nó cùng thủy triều và ánh sáng. hiện diện của thơ, ở điểm giao cắt đó, xóa đi ảo giác về các đường kẻ. thơ, ở điểm giao cắt đó, không còn bận bịu về bản gốc và bản dịch, chỉ mời gọi một sự đọc được chia sẻ giữa các ngôn ngữ, và không vẽ thêm những đường ngăn các trái tim.

tôi nghĩ xa xôi về tiếng Việt, trong nỗi hi vọng mong manh bền bỉ về điểm va chạm và giao cắt thiết yếu giữa bầu trời và đại dương ấy. một thứ tiếng Việt thơ, như mọi ngôn ngữ thơ, không chịu sự chi phối và điều khiển của những ý thức hệ mang tham vọng gia cố thẩm quyền, thậm chí độc quyền, những ý thức hệ có thể luôn nằm sẵn trong đời sống ngôn ngữ ta, đòi đóng khung ta trong những ô cửa sổ chật chội. một thứ tiếng Vệt thơ nơi người viết và người đọc nỗ lực không hiến mình vô tội cho những khuôn khổ, không ngừng tra hỏi, về chính những khuôn khổ, về khả năng rời bỏ và không thuộc về những khuôn khổ ấy.

tại sao khi nghĩ về các ranh giới, tôi luôn nghĩ về tình yêu, hay ngược lại, nghĩ về tình yêu, để nghĩ về các ranh giới. tình yêu, cùng lúc, đói khát đam mê và khao khát tự do khỏi những trói buộc xúc cảm, đòi hòi được có nhau và đòi thủ tiêu các dạng quan hệ sở hữu quyền lực, chất vấn không ngừng về các khả năng của việc xóa bỏ, vượt qua hay sống trong/ngoài/cùng các ranh giới.

khoảng chơi của những người sống cùng ngôn ngữ: nỗi cô đơn và sự can đảm đi qua các ranh giới nơi nơi sẵn bày.

có thể là một lối đi: không chỉ cá nhân, nghệ thuật, thơ ca trở nên thiết thân hơn, riêng tư hơn, riêng tư hơn nữa, để vào sâu hơn nữa.

cuộc chuyện trò bất tận

khi người phơi bày chốn riêng tư thân thiết ấy, tôi sẽ e dè: ngần ngại, thôi bước vào, để có cảm giác an toàn xa cách, hay bước vào, để nhận về nỗi lạ lẫm hồ nghi. bước vào, trở thành một hành vi vượt qua nỗi sợ không chia sẻ được, mở ra một khả năng dung nhận.

một cuộc trò chuyện có thể mở ra trong bóng tối và mở vào tiếng thầm thĩ của những kết nối lặng lẽ trong dư vị của thưởng thức. nhu cầu đối thoại [thơ] tự nó chối bỏ những dạng thức nói năng được định vị. nhiều hơn, hay đơn giản là, bày ra, gom góp vào, không gian này, một hiện tồn, một trạng huống. để làm gì, cho ai? có thể chỉ để nương náu trong đôi trái tim bè bạn, được giữ lại bởi đôi kẻ yêu thương. thơ không từ chối trò chuyện, mà từ chối tính mục đích của trò chuyện, để không bị chi phối bởi cảm hứng sửa chữa và can thiệp vào đời sống khác, không bị ám bởi tham vọng truyền bá, ảnh hưởng, để luôn là khơi gợi và mời gọi và thử thách và tự do, để không ám ảnh sứ mệnh làm mũi tên tranh đấu đòi hỏi một thứ quyền lực siêu hình nào đó.

bày ra đó, thì khả năng, tiềm năng, sự hiện hữu hoá những đối thoại đôi khi chỉ trông đợi mong manh những hiếm hoi của vô tình gặp gỡ. thậm chí, trớ trêu, luôn chỉ còn là hồi ức về những gặp gỡ hiếm hoi ấy, những khoảnh khắc tự giải thoát khỏi mọi diễn giải.

bày ra đó, tự do, trần trụi, hẳn nhiên phải ôm mang nỗi cô đơn và khả năng thương tổn. ôm mang cái không thể ôm mang.

tự do tới mức nào, trần trụi tới mức nào, cô đơn tới mức nào, đam mê tới mức nào, ngây thơ tới mức nào, để không nương bám vào đâu cả, không trông đợi vào một điểm dừng và được lang thang nhiều hơn nữa.

ta gọi là giá trị, không phải một công việc, mà một con người. không phải những đặc quyền, những tiêu chuẩn của sản phẩm mà là những trải nghiệm, những phá dỡ.

có thể là một lối đi: không chỉ cá nhân, nghệ thuật, thơ ca trở nên thiết thân hơn, riêng tư hơn, riêng tư hơn nữa, để vào sâu hơn nữa, tới trơ trọi.

đi lạc

đứa trẻ tò mò rời nhà vào rừng sâu, muốn trải nghiệm đời sống một người rừng. cậu hăm hở và háo hức. cậu vừa phiêu lưu vừa sợ hãi. cậu gọi to lên, nhưng chỉ nghe thấy tiếng vọng của mình. những bước chân mỗi lúc một bồn chồn tìm đường quay lại.

cậu bé lớn lên, không quên giấc mơ – hiện thực thơ ấu, nhưng cậu chỉ còn tìm trong kí ức, đáy tủ, những giấc mơ cũ, những giấc mơ dường như mỗi lúc một bất khả và xa xôi.

một thứ nghệ thuật cuối cùng có thể chỉ còn là giấc mơ về nghệ thuật. nhưng phải chăng giấc mơ đó – cái hiện thực đó không đáng giá, cái mơ mộng đáng giá ấy, và cả thực hành đi lạc của cậu bé như một nỗ lực phơi bày những khả thể?

một tác phẩm nghệ thuật, một bài thơ như thể mãi trôi dạt, một cái gì không bao giờ định hình dù có khối hình riêng biệt, một đám mây vừa trôi vừa đổi dạng. nó không cam kết về sự hoàn tất một tiến trình, không khởi đầu, không kết thúc, hay nó là cái khởi đầu từ chỗ khởi đầu và kết thúc ở điểm dừng của nỗi chờ đợi. nó là cái không kết thúc nổi nhưng cũng không vì thế mà không hoàn tất. nó bỏ lại đằng sau, chuyển hoá, lui vào bên trong, bay lượn, không thể nắm bắt.

sự chờ đợi là vô vọng: đừng kì vọng những kẻ viết này, hắn vẫn ở đó, mà luôn chốn khác, gương mặt đấy mỗi lần gặp lại là một gương mặt khác, hắn không bao giờ hoàn toàn lộ diện dù không ngừng phơi bày và tự phơi bày. khi ta dường như chạm vào hắn, tìm thấy hắn, thì hắn bắt đầu sợ hãi, hắn sợ bị tìm thấy, hắn sợ mất tự do, cả khi những va chạm kia có thể cũng vô ích và vô cầu như bản thân hắn vậy.

có thể là một lối đi: không chỉ cá nhân, nghệ thuật, thơ ca trở nên thiết thân hơn, riêng tư hơn, riêng tư hơn nữa, để vào sâu hơn nữa, tới trơ trọi, tới lạc lối, tới vô định.

cơ thể tôi viết

cả khi tôi ngừng viết, cơ thể tôi vẫn tỏ bày. năng lượng dư dả trữ đâu đó, dưới các múi cơ, trong máu chảy, trôi theo những tế bào chết.

tôi không hét vào khoảng trống để tự thỏa mãn mình. nghệ thuật và thơ ca, hay tình yêu, không bao giờ giản đơn là sự thỏa mãn, bởi nó không bao giờ đem lại sự thỏa mãn. bày ra đó, những đốm lửa hi vọng, những nút thắt nối của các cơ hội, những khả thể bập bềnh của tình yêu và sự cùng nhau, những cơn đói gọi những cơn đói, những cơ thể ôm ghì nhau, ôm ghì kí ức, một cuộc thoại nơi đáy vực vô đáy, ta có thể đi xa và đi sâu tới nơi nào đó, tới không nơi nào, những nỗ lực chia sẻ, cùng nhau, cô đơn cùng nhau, thậm chí, cùng đi vào bóng tối, nuôi dưỡng giấc mơ nơi bóng tối và ánh sáng hòa làm một thành bản thể ta, trọn vẹn.

thơ tự khám phá, tự phơi bày, tự tiết lộ thân phận, và mời gọi phơi bày trong ngôn ngữ, theo những cách ta chưa sẵn sàng đón đợi.

thơ, ở đó, đâu đó, chờ đợi các cơ duyên, thường khi là vô vọng, nhưng không chịu kiệt sức: mở ra một lối đi mù mịt bất định, và người cùng tôi dạo chơi trên đó.

có thể là một lối đi: không chỉ cá nhân, nghệ thuật, thơ ca trở nên thiết thân hơn, riêng tư hơn, riêng tư hơn nữa, để vào sâu hơn nữa, tới trơ trọi, tới lạc lối, tới vô định, tới sự bay bổng.

Jan, 16th, 2015

Nhã Thuyên

(bài viết mở đầu cho bản thảo tập thơ tôi vừa hoàn thành, cũng chưa biết sẽ làm gì với nó/nó được -bị làm gì:) .văn bản sớm hơn của bài viết này đã đăng trên Tia Sáng với nhan đề Chốn thân thiết, Xuân ẤT Mùi 2015. ở đây, tôi sửa sang chút.)

“let it lie down in the mud”

*Mai Châu, 28.02.2015. my 29th,  the river, the books, the silence, the forgotten, wind on the roads, more self-portrait practice for my -maybe-never-finished self-portrait project, together in my hopelessness.  maybe the last year of my teens:P. IMG_1022IMG_1161 IMG_1140 IMG_1054 EHHEHHH ENOUGH SAID- MORE ON FLICKR.

https://www.flickr.com/photos/35167279@N02/sets/72157650709143448/

*some random Rumi on internet, bit of hope, bit of beauty, and because i am happy that you are being back in town this summer, my friend, so i read Rumi with/for you. at least a mandatory trip together nhé!!!!!

because the life is what it is.

you me us she he us them you me.

“i know, you are tired but come, this is the way”

—–
“lovers think they are looking for each other
but there’s only one search:wandering”
——
“the cure for pain is in the pain.
good and bad are mixed. if you don’t have both,
you don’t belong to us”
—–
“when one of us gets lost
is not here. he must be inside us. there’s no

place like that anywhere in the world”

“our friendship is made of being awake
the nightingale sometimes flies from the garden
to sing in the forest”
—–
“someone sober
will worry about things going badly
let the lover be”
—–
“take your intelect out
and let it lie down in the mud”
—–
“if you want to be more alive
love is the truest health”
—–
“i trust you to kill me”

Cần minh bạch: Vấn đề “nhận tiền nước ngoài” và dự án Những tiếng nói ngầm

Báo Văn Nghệ số 16 ra ngày 19 tháng 4 năm 2014 có đăng bài “Để hiểu rõ hơn thực chất của một luận văn” của PGS.TS Phan Trọng Thưởng, mà theo chapeau giới thiệu của báo Văn nghệ, đây là “toàn văn bản nhận xét phản biện của PGS.TS Phan Trọng Thưởng tại Hội đồng thẩm định luận văn do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thành lập” có những chi tiết vu khống nghiêm trọng về cá nhân tôi mà tôi buộc phải làm rõ.

Trước hết, xin được thưa rằng, tôi sẽ không tranh luận lại các luận điểm nhận xét về luận văn của tôi mà ông Phan Trọng Thưởng đưa ra, vì hai lí do.

Một, tôi đọc văn bản này như một văn bản được viết bởi một người đọc bất kì, dù đăng báo giấy hay đăng mạng, như các bài báo phê phán của Chu Giang và nhiều người khác dạo trước, hay như các bài viết khẳng định giá trị của luận văn. Ở góc độ này, tôi vẫn giữ ý kiến rằng, mọi người đọc đều có quyền nhận xét một sản phẩm theo cách mà họ muốn, và tôi, tác giả luận văn, trước hết, tôi chỉ có thể lắng nghe, nếu có duyên may thì được dịp trao đổi và học hỏi, nếu không, thì biết vậy thôi. Luận văn của tôi có thể dễ dàng tìm thấy trên mạng, và tôi không (thể) can thiệp vào việc đọc nó, diễn giải nó như thế nào.

Hai, nếu quả thực đúng như lời báo VN, đây là “toàn văn bản nhận xét phản biện của PGS.TS Phan Trọng Thưởng tại Hội đồng thẩm định luận văn do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thành lập”, cũng theo báo VN, theo quyết định ngày 12 tháng 2 năm 2014 của trường ĐHSP HN, thì tôikhông có trách nhiệm phải trao đổi lại các luận điểm phản biện của ông Phan Trọng Thưởng vì lẽ: Tôi (cũng như người hướng dẫn và các thành viên hội đồng chấm luận văn của tôi năm 2010) không được biết tới quyết định thành lập hội đồng này, không được chứng kiến quá trình làm việc của hội đồng, không được dự cuộc phản biện của hội đồng thẩm định. Trong hội đồng chấm luận văn năm 2010, sau khi các thành viên hội đồng trình bày nhận xét của họ và nêu câu hỏi cho học viên, tôi có cơ hội và nhiệm vụ trao đổi lại và trả lời các câu hỏi, các chất vấn của họ. Một hội đồng thẩm định lại luận văn, nếu tôi, tác giả luận văn, là người được tham dự, tôi sẽ có trách nhiệm phải hồi đáp các nhận xét phản biện này.

Điểm mà tôi bắt buộc phải làm rõ và tôi đề nghị ông Phan Trọng Thưởng, với tư cách là tác giả văn bản này, làm rõ, liên quan tới hai chi tiết trong bài báo, xin được trích nguyên văn, trong phần “Kết luận và kiến nghị của người nhận xét”, trang 18, Báo Văn Nghệ.

Kết luận 1 của ông Phan Trọng Thưởng:

“1. Như tác giả luận văn đã tự xác nhận, đây là một luận văn “chính trị đội lốt văn chương”: (Trang 18, báo VN). Tôi đề nghị ông làm rõ tôi đã “tự xác nhận” điều đó như thế nào, trong đoạn trích dẫn nào.

Kết luận 2 là một chi tiết không minh bạch về thông tin, có thể gây hiểu lầm và dẫn tới những cáo buộc nghiêm trọng:

“2 – Từ luận văn này, với bút danh Nhã Thuyên đã phát triển thành 5 tiểu luận nằm trong một cấu trúc thống nhất mang tên: Những tiếng nói ngầm được đăng trên trang mạng internet (Damau) dưới sự tài trợ của các tổ chức nước ngoài.” (trang 18, báo VN)

Về dự án này, tôi đã nói rõ trên blog cá nhân mình. Xin xem ở đây:

Về Những tiếng nói ngầm:

https://junglepoetry.wordpress.com/2013/07/14/ve-nhung-tieng-noi-ngam/

Kết quả của dự án, gồm 5 tiểu luận dài, 1 video tư liệu phỏng vấn mà Damau là nơi đầu tiên và duy nhất đến thời điểm này xuất bản chúng online:

Lời cảm ơn: – Damau đăng cùng video tư liệu. Cũng có thể xem ở đây.

http://damau.org/archives/26422

Một phỏng vấn khác bằng văn bản với Mở Miệng được thực hiện qua email, được đăng trên Damau và sau đó là Tiền Vệ cùng một khoảng thời gian:

Damau: Trò chuyện với Lý Đợi và Bùi Chát: Khước từ thoả hiệp để lựa chọn tự dohttp://damau.org/archives/20163

Tiền Vệ:

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=5B00DBFD1FFA4DDE491ABA7A3139CF1C?action=viewArtwork&artworkId=12829

Lời ngỏ: http://damau.org/archives/26260

Tiểu luận 1: Những va chạm: thơ ca, bối cảnh, cá nhân – một cách chia sẻ mối quan tâm cá nhân của tôi, và vì sao lại dẫn tới mối quan tâm này.

http://damau.org/archives/26280

Tiểu luận 2: Thơ ca của sự phủ định và sự phủ định thơ – về cách nhìn của tôi với cái gọi là thơ chính trị. http://damau.org/archives/26320

Tiểu luận 3: Cuộc nổi dậy của rác thải - đây là tiểu luận về Mở Miệng, và thực ra có thể xem là sự viết lại luận văn cao học của tôi.

http://damau.org/archives/26332

Tiểu luận 4: Những tiếng nói cộng hưởng – về các nhà thơ nữ.

http://damau.org/archives/26386

Tiểu luận 5: Nguyễn Quốc Chánh  – một nhà thơ -bóng tối trọn vẹn như tôi nhìn thấy, cảm thấy, nếu tôi cần hình dung bằng một ẩn dụ.

http://damau.org/archives/26342

Có mấy điều mà tôi nhất định phải khẳng định lại như sau:

1. Dự án Những tiếng nói ngầm được hoàn thành sau khi tôi tốt nghiệp cao học trường Sư phạm. Trong thời gian này, tôi vẫn sống và làm việc như một người viết tự do. Đây là dự án cá nhân mà tôi phát triển một phần từ luận văn. Dự án này không phải chỉ viết về Mở Miệng.

2. Damau, nơi các tiểu luận của dự án này được đăng tải, không phải là một trang mạng internet trôi nổi. Đây là một tạp chí văn chương độc lập và phi lợi nhuận, được sáng lập và điều hành bởi một nhóm các nhà văn, dịch giả người Việt/gốc Việt đang lưu trú ở các quốc gia khác nhau. Damau không trực thuộc một hội đoàn hay một tổ chức chính trị nào. Damau hiện tại cũng không trả nhuận bút cho các tác giả có bài đăng. Vì thế, Damau, nơi đăng tải dự án này, không phải là một “tổ chức nước ngoài” đã trả tiền tôi để tôi làm và đăng tải dự án này. (!)

Xin xem chủ trương của damau tại đây:

http://damau.org/chu-truong

Trích:

“Chủ trương của Da Màu là gì?

Da Màu chủ trương một diễn đàn văn chương không biên giới, một diễn đàn mở rộng cho mọi khuynh hướng sáng tác, mọi tác giả, mọi khai phá đúng nghĩa. Da Màu chủ trương một nền văn chương Việt Nam không đặt trọng tâm và không lệ thuộc vào một thể chế chính trị nào. Da Màu là một mô hình tiên phong chủ xướng một đối thoại tự do giữa các ngôn ngữ, đặc biệt là giữa những ngôn ngữ bên lề và những ngôn ngữ có thế lực kinh tế và chính trị. Da Màu chủ trương thúc đẩy văn chương Việt Nam đương đại vượt những rào cản để đạt mức phổ quát trong bối cảnh toàn cầu hóa.”

(hết trích)

Chỉ cần vào thư mục các tác giả tác phẩm đăng tải trên tạp chí online này, tôi có thể thấy không ít nhà văn, nhà thơ, dịch giả đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Thậm chí, trong phạm vi hiểu biết của tôi, có không ít tác giả là hội viên Hội nhà văn Việt Nam nữa. Nhưng điều đó có phương hại gì tới việc đăng tải tác phẩm trên một trang mạng văn học xuyên biên giới?

Đó là khẳng định từ phía tôi, với tư cách tác giả dự án Những tiếng nói ngầm, để làm rõ rằng, Damau chỉ là nơi xuất bản tác phẩm. Nó bình đẳng như các trang mạng văn chương khác, trong thời đại này. Có khác, là nó không thuộc một hội đoàn chính trị hay nghề nghiệp nào, chẳng hạn như trang của Hội nhà văn, của Viện văn học, hay các tạp chí online hoạt động  được cấp phép trong nước.

3. Vậy đâu là nơi tôi đã nhận được tài trợ một phần cho dự án này? Tôi đã trả lời rõ ràng: đó là quỹ ANA (ArtsNetworkAsia), theo giới thiệu, bằng tiếng Việt của họ như sau: “Tổ chức Liên kết Nghệ thuật Châu Á (Arts Network Asia – ANA) là một nhóm các nghệ sĩ, nhà hoạt động văn hóa và nghệ thuật độc lập chủ yếu đến từ Đông Nam Á, với mục đích khuyến khích và hỗ trợ sự hợp tác nghệ thuật trong khu vực cũng như phát triển những kỹ năng quản trị và quản lý hành chính tại Châu Á. ANA khởi đầu tại Châu Á, dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau, hoạt động cùng với các nghệ sĩ Châu Á và được thúc đẩy bởi phương châm hợp tác một cách có ý nghĩa..”

Xin xem trang web của họ, chọn ngôn ngữ mà bạn muốn đọc. Trang web support ngôn ngữ của các nước Đông Nam Á.

http://www.artsnetworkasia.org/main.html

Đây là file giới thiệu bằng tiếng Việt:

AboutTheNetworkVietnam

Như vậy,

–  ANA là một tổ chức nước ngoài, nhưng không phải một tổ chức chính trị mà là một Tổ chức liên kết Nghệ thuật Châu Á.

– Để nhận tài trợ của tổ chức này, bạn cần phải làm gì?  Bạn cần phải vào website của họ, xem hướng dẫn nộp hồ sơ và gửi hồ sơ tới họ, thường bao gồm CV và bản trình bày tóm tắt dự án (cá nhân hoặc có hợp tác) của mình, từ tư cách cá nhân hoặc nhóm, và các yêu cầu liên quan. Sau đó, mọi việc bạn có thể làm là chờ đợi xem hồ sơ của bạn có được nhận tài trợ hay không.

Tất cả các nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ, các nhà hoạt động nghệ thuật, văn hoá… đều có thể nộp hồ sơ xin tài trợ của quỹ ANA.

Tất cả các dự án được nhận tài trợ đều được thông báo công khai trên trang web của họ.

– Dự án của tôi, theo như tôi được biết từ các thông tin công khai trên trang web của họ, là dự án đầu tiên về văn chương ở Việt Nam được nhận tài trợ trong những năm gần đây từ quỹ nghệ thuật này. Điều này, tôi có thể lí giải rất đơn giản: Từ trước tới nay, ở Việt Nam, các nghệ sĩ thị giác, phim ảnh, hội hoạ, các nhà hoạt động xã hội, văn hoá, nghệ thuật… được tiếp xúc sớm hơn với các cách thức tìm tài trợ và họ cũng chủ động hơn trong việc tìm tài trợ từ các quỹ nghệ thuật độc lập. Khi tôi nộp hồ sơ cho dự án này, tôi muốn thử nghiệm hướng tìm tài trợ đó. Thay vì bạn tìm cách vào Hội nhà văn hay vào một hội nghề nghiệp nào đó và viết đơn xin tài trợ của Hội, và nếu bạn cũng không có khả năng tự tìm tài trợ từ các doanh nghiệp, các hội đoàn khác…, nếu bạn không dư dả tiền bạc để làm những việc bạn muốn làm, thì bạn có thể có những cách thức khác để hỗ trợ công việc của mình. Tìm tài trợ từ các quỹ độc lập là một cách phổ biến trên toàn thế giới.

Hẳn nhiên, tôi ước tôi không bao giờ phải vã mồ hôi viết các loại hồ sơ, dự án để tìm tài trợ! Vì đó không phải là công việc dễ dàng và dễ chịu. Cho tới thời điểm này, ANA là quỹ duy nhất mà tôi đã apply.

– Quỹ ANA chỉ là một trong vô vàn các quỹ nghệ thuật độc lập trên thế giới hiện nay, và là một quỹ hiếm hoi đến từ các nghệ sĩ Đông Nam Á và hướng tới việc hỗ trợ các nghệ sĩ châu Á, nhất là các nghệ sĩ Đông Nam Á.

Danh sách các nghệ sĩ Việt Nam nhận được tài trợ của quỹ này, tôi chỉ xin điểm danh họ từ trang web, theo thống kê năm như sau:

Năm 2012: nhóm Dragon, Thành phố Hồ Chí Minh với dự án Dragon Team.

http://www.artsnetworkasia.org/content/proposals/DragonTeam.html

Năm 2011: Nhã Thuyên, với dự án Underground Voices:

http://www.artsnetworkasia.org/content/proposals/NhaThuyen.html

Năm 2009:

Trương Thiên, nghệ sĩ thị giác với dự án về môi trường và nghệ thuật cộng đồng “Last Holidays”

http://www.artsnetworkasia.org/content/proposals/Truong-Thien.html

Nhóm +84, được tài trợ với dự án về múa đương đại kết hợp với hãng dân ca Việt Bắc, Thái Nguyên:

http://www.artsnetworkasia.org/content/proposals/84-Group.html

Tìm tài trợ cho các hoạt động nghệ thuật, văn hoá độc lập như một sự chủ động cho nhu cầu lao động và phát triển sự nghiệp của người làm văn hoá, nghệ thuật, cũng như vì nhu cầu trao đổi trong cộng đồng, hẳn nhiên là một việc làm bình thường trên thế giới này.

Từ những trình bày trên đây, tôi:

 

– bác bỏ cáo buộc không có căn cứ cho rằng tôi “tự xác nhận đây là một luận văn “chính trị đội lốt văn chương”.

– bác bỏ thông tin rằng tôi làm dự án Những tiếng nói ngầm với sự tài trợ của CÁC TỔ CHỨC NƯỚC NGOÀI như văn bản ông Phan Trọng Thưởng công bố trên báo Văn nghệ, nhằm cáo buộc tôi có “động cơ công kích, đả phá chế độ chính trị rõ rệt hơn” (trang 18, báo Văn nghệ).

–  những thông tin như vậy mang tính chất vu khống rõ ràng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống cá nhân của tôi, một người viết văn tự do và không thuộc vào bất cứ tổ chức, hội đoàn nào cho tới thời điểm hiện tại.